VĂN HÙNG ĐỐC
(Sưu tầm & Chuyển tiếp)

 

Thu hứng kỳ 1
(Đỗ Phủ - 杜甫, Trung Quốc) 

Thể thơ: Thất ngôn bát cú (thời kỳ: Thịnh Đường)


秋興其一 

玉露凋傷楓樹林, 
巫山巫峽氣蕭森。 
江間波浪兼天湧, 
塞上風雲接地陰。 
叢菊兩開他日淚, 
孤舟一繫故園心。 
寒衣處處催刀尺, 
白帝城高急暮砧。 

Thu hứng kỳ 1 

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, 
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm. 
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, 
Tái thượng phong vân tiếp địa âm. 
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, 
Cô chu nhất hệ cố viên tâm. 
Hàn y xứ xứ thôi đao xích, 
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm. 

Bản dịch của Nguyễn Công Trứ 

Lác đác rừng phong hạt móc sa, 
Ngàn non hiu hắt, khí thu loà. 
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm, 
Mặt đất mây đùn cửa ải xa. 
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ, 
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà. 
Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước, 
Thành Bạch, chầy vang bóng ác tà.

Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu 

Rừng phong xao xác móc thê lương 
Vu Giáp Vu Sơn luống thảm thương 
Trời ngút sông dài làn sóng dậy 
Đất liền ải vắng bóng mây vương 
Đôi chòm cúc nở tuôn dòng lệ 
Một chiếc thuyền neo nhớ cố hương 
Giục giã thước dao may áo rét 
Chày khua Bạch Đế rộn tà dương. 

Thu hứng kỳ 2
(Đỗ Phủ - 杜甫, Trung Quốc) 

秋興其二 

夔府孤城落日斜, 
每依北斗望京華。 
聽猿實下三聲淚, 
奉使虛隨八月槎。 
畫省香爐違伏枕, 
山樓粉堞隱悲笳。 
請看石上藤蘿月, 
已映洲前蘆荻花。 

Thu hứng kỳ 2 

Quỳ phủ cô thành lạc nhật tà, 
Mỗi y Nam Đẩu vọng kinh hoa. 
Thính viên thực há tam thanh lệ, 
Phụng sứ hư tuỳ bát nguyệt tra, 
Hoạ tỉnh hương lô vi phục chẩm, 
Sơn lâu phấn điệp ẩn bi già. 
Thỉnh khan thạch thượng đằng la nguyệt, 
Dĩ ánh châu tiền lô địch hoa. 

Cảm xúc mùa thu kỳ 2
(Người dịch: Lê Nguyễn Lưu) 


Phủ Quỳ quạnh quẽ ánh tà huy 
Nam Đẩu vời trông nhớ đế kỳ 
Dòng lệ "tam thanh" nghe vượn giục 
Chiếc bè "bát nguyệt" uổng công đi 
Lầu canh vách phấn kèn im bặt 
Dinh vẽ lò hương mộng được gì ? 
Trăng dọi qua cành in mặt đá 
Hàng lau xao xác sáng ngoài đê. 

dịch nghĩa

Ánh mặt trời xiên xuống thành phủ Quỳ vắng vẻ, 
Ta thường dõi sao Nam Đẩu trông về kinh đô. 
Nghe vượn kêu ba tiếng rơi nước mắt thật, 
Đi sứ theo chiếc bè tám tháng uổng công! 
Nhớ lò hương nơi dinh vẽ, ôm gối thao thức, 
Ở tường vôi lầu canh trên núi, vọng tiếng kèn buồn. 
Hãy xem trăng qua cây leo dọi trên mặt đá, 
Đã sáng lấp lánh trên bông lau ngoài bãi sông.

Thu hứng kỳ 3
(Đỗ Phủ - 杜甫, Trung Quốc) 

秋興其三 

千家山郭靜朝暉, 
日日江樓坐翠微。 
信宿漁人還泛泛, 
清秋燕子故飛飛。 
匡衡抗疏功名薄, 
劉向傳經心事違。 
同學少年多不賤, 
五陵衣馬自輕肥。 

Thu hứng kỳ 3 

Thiên gia sơn quách tĩnh triêu huy 
Nhật nhật giang lâu toạ thuý vi. 
Tín túc ngư nhân hoàn phiếm phiếm, 
Thanh thu yến tử cố phi phi, 
Khuông Hành kháng sớ công danh bạc, 
Lưu Hướng truyền kinh tâm sự vi. 
Đồng học thiếu niên đa bất tiện, 
Ngũ Lăng cừu mã tự khinh phì. 

Cảm xúc mùa thu kỳ 3
(Người dịch: Lê Nguyễn Lưu) 


Nghìn nhà ven núi vắng mai soi 
Lầu giữa sương lam suốt buổi ngồi 
Đêm vắng thuyền ngư chèo nhẹ nhẹ 
Thu trong đàn én liệng loi thoi 
Khuông Hành dâng sớ, danh hèn nhỉ 
Lưu Hướng truyền kinh, phận mỏng thôi ! 
Bạn trẻ đồng khoa giờ chẳng kém 
Ngũ Lăng cừa mã rộn như sôi... 

- dịch nghĩa

Nghìn nhà thành núi rạng nắng mai yên tĩnh, 
Ngày ngày ngồi trên lầu sông giữa hơi núi biếc. 
Đêm dài, người đánh cá bơi thuyền vùn vụt, 
Trời thu trong, từng con én bay liệng. 
Như Khuông Hành dâng sớ mà công danh mỏng, 
Như Lưu Hướng giảng sách mà tâm sự ngang trái. 
Nhiều bạn cùng học thời trẻ nay có hèn đâu, 
Đều mặc áo cừu, cỡi ngựa béo ở Ngũ Lăng!

Thu hứng kỳ 4
(Đỗ Phủ - 杜甫, Trung Quốc) 

秋興其四 

聞道長安似弈棋, 
百年世事不勝悲。 
王侯第宅皆新主, 
文武衣冠異昔時。 
直北關山金鼓振, 
征西車馬羽書馳。 
魚龍寂寞秋江冷, 
故國平居有所思。 

Thu hứng kỳ 4 

Văn đạo Trường An tự dịch kỳ 
Bách niên thế sự bất thăng bi 
Công hầu đệ trạch giai tân chủ 
Văn vũ y quan dị tích thì 
Trực bắc quan san kim cổ chấn 
Chinh tây xa mã vũ thư trì 
Ngư long tịch mịch thu giang lãnh 
Cố quốc bình cư hữu sở tư 

Cảm xúc mùa thu kỳ 4
(Người dịch: Lê Nguyễn Lưu) 


Nghe nói Trường An tựa hí trường! 
Trăm năm thế cuộc lắm bi thương 
Công hầu dinh thự thay người mới 
Văn vũ y quan đổi khác thường 
Chiêng, trống ầm vang lên Bắc tái 
Quân, thư chậm trễ đến Tây phương 
Sông thu lạnh vắng hơi tăm cá 
Cố quốc thanh bình mãi ước mong. 

Bản dịch (Không rõ tác giả) 

Nghe nói Trường An tựa cuộc cờ, 
Trăm năm thế sự xót xa chưa? 
Lâu đài nếp cũ người trông mới, 
Áo mũ triều nay kiểu khác xưa. 
Canh bắc ải quan rền trống gióng, 
Dẹp tây xe ngựa rộn tin đưa. 
Cá rồng tịch mịch, sông thu lạnh, 
Nước cũ bình yên, chạnh mối tơ. 

-dịch nghĩa

Nghe nói đất Trường An như bàn cờ, 
Chuyện đời trăm năm buồn thương khôn xiết. 
Nhà cửa của công hầu đều có chủ mới, 
Áo mũ các quan văn võ đã khác ngày xưa. 
Biên cương phía bắc vang tiếng trống đồng, 
Xe ngựa miền tây dong ruổi thư lông. 
Cá rồng vắng vẻ trên sông thu lạnh lùng, 
Có lúc chợt nhớ cảnh đất nước yên lành cũ.


Thu hứng kỳ 5
(Đỗ Phủ - 杜甫, Trung Quốc) 

秋興其五 

蓬萊宮闕對南山, 
承露金莖霄漢間。 
西望瑤池降王母, 
東來紫氣漢函關。 
雲移雉尾開宮扇, 
日繞龍鱗識聖顏。 
一臥滄江驚歲晚, 
幾回青瑣點朝班。 

Thu hứng kỳ 5 

Bồng lai cung khuyết đối Nam san, 
Thừa lộ kim hành Tiêu Hán gian. 
Tây vọng Dao Trì giáng Vân Mẫu, 
Đồng lai tử khí mãn Hàm Quan 
Vân di trỉ vĩ khai cung phiến, 
Nhật nhiễu long lân thức thánh nhan. 
Nhất ngọa Thương giang kinh tuế vãn, 
Kỷ hồi Thanh Tỏa điểm triều ban. 

Cảm xúc mùa thu kỳ 5
(Người dịch: Lê Nguyễn Lưu) 


Thái Ất, Bồng Lai ngoảnh mặt vào 
Cột đồng hứng móc ngất trời cao 
Hàm Quan đông ngút làn hơi tía 
Vương Mẫu tây về mái điện Dao 
Chiếc quạt, vầng mây vờn trí vũ 
Chầu vua, ánh nắng rực long bào 
Giật mình năm hết nơi sông bể 
Thanh Toả triều xưa nhớ biết bao! 

- dịch nghĩa

Cung Bồng Lai đối mặt với núi Chung Nam, 
Cột đồng hứng móc sừng sững giữa trời. 
Phía tây trông về Dao Trì, Vương Mẫu xuống, 
Phía đông kéo đến làn hơi tía đầy Hàm Quan. 
Quạt lông trĩ trong cung mở ra như mây vần, 
Nắng rực vảy rồng trên áo long cổn, biết mặt vua. 
Nằm dài ở sông Thương sợ lúc năm tàn, 
Nhớ những buổi duyệt quan ở Thanh Tỏa.

Thu hứng kỳ 6
(Đỗ Phủ - 杜甫, Trung Quốc) 

秋興其六 

瞿塘峽口曲江頭, 
萬里風煙接素秋。 
花萼夾城通御氣, 
芙蓉小苑入邊愁。 
珠幕繡柱圍黃鶴, 
錦纜牙檣起白鷗。 
回首可憐歌舞地, 
秦中自古帝王州。 

Thu hứng kỳ 6 

Cù Đường Giáp Khẩu Khúc giang đầu, 
Vạn lý phong yên tiếp tố thu. 
Hoa Ngạc Giáp Thành thông ngự khí, 
Phù Dung Tiểu Uyển nhập biên sầu 
Châu liên tú trụ vi hoàng hộc, 
Cẩm lãm nha tường khởi bạch âu. 
Hồi thủ khả liên ca vũ địa, 
Tấn Trung tự cổ đế vương châu. 

Cảm xúc mùa thu kỳ 6 
(Người dịch: Lê Nguyễn Lưu) 


Bên bờ sông Khúc, kẽm Cù Đường 
Mây gió thu giăng vạn dặm trường 
Hoa Ngạc, Giáp Thành hương ngự đạo 
Phù Dung, Tiểu Uyển hận biên cương 
Hộc vàng: trụ vóc rèm châu nhốt 
Âu trắng: buồm ngà giải gấm gương 
Ngoảnh lại ngùi thương nơi múa hát 
Tần Trung xưa vốn đất quân vương. 

- dịch nghĩa

Cửa kẽm Cù Đường ở đầu sông Khúc, 
Khói và gió thu liên tiếp muôn dặm. 
Hoa Ngạc, Giáp Thành thông suốt khí vua, 
Phù Dung, Tiểu Uyển tràn nỗi buồn biên giới. 
Rèm châu cột vẽ vây kín hạc vàng, 
Dây gấm cột ngà bay lên âu trắng. 
Ngó lại ngậm ngùi thương nơi múa hát 
Tấn Trung từ xưa vốn là nơi đất vua chúa.

Thu hứng kỳ 7
(Đỗ Phủ - 杜甫, Trung Quốc) 

秋興其七 

昆明池水漢時功, 
武帝旌旗在眼中。 
織女機絲虛夜月, 
石鯨鱗甲動秋風。 
波漂菰米沉雲黑, 
露冷蓮房墮粉紅。 
關塞極天惟鳥道, 
江湖滿地一漁翁。 

Thu hứng kỳ 7 

Côn Minh trì thủy Hán thì công, 
Vũ đế tinh kỳ tại nhãn trung. 
Chức nữ cơ ty hư dạ nguyệt. 
Thạch kinh tân giáp động thu phong. 
Ba phiêu cô mễ trầm vân hắc, 
Lộ lãnh liên phòng trụy phấn hồng. 
Quan tái cực thiên duy điểu đạo, 
Giang hồ mãn địa nhất ngư ông. 

Cảm xúc mùa thu kỳ 7 
(Người dịch: Lê Nguyễn Lưu) 


Côn Minh nước biếc đã ghi công 
Vũ Đế tinh kỳ tựa mắt trông 
Chức Nữ khung hờ trăng quạnh chiếu 
Thạch Kình vảy gợn gió thu lồng 
Cô chìm sóng dạt mờ mây xám 
Sen rụng sương sa lạnh phấn hồng 
Quan ải ngất trời chim mở lối 
Giang hồ khắp chốn một ngư ông. 

- dịch nghĩa

Nước ao Côn Minh còn ghi vũ công đời Hán, 
Cờ xí của Vũ Đế như bày ra trước mắt. 
Khung Chức Nữ bỏ xuống dưới trăng khuya, 
Vảy kình đá rung lên trước gió thu. 
Sóng dạt đám cỏ mề như mây đen chìm xuống, 
Móc làm lạnh gương sen, phấn hồng rụng. 
Quan ải ngất trời chỉ có đường chim bay, 
Ta là một ông chài đi khắp sông hồ.

Thu hứng kỳ 8
(Đỗ Phủ - 杜甫, Trung Quốc) 

秋興其八 

昆吾御宿自逶迤, 
紫閣峰陰入渼陂。 
香稻啄余鸚鵡粒, 
碧梧栖老鳳凰枝。 
佳人捨翠春相問, 
仙侶同舟晚更移。 
彩筆昔曾干氣象, 
白頭吟望苦低垂。 

Thu hứng kỳ 8 

Côn Ngô ngự túc tự uy trì, 
Tử Các phong âm nhập Mỹ Bi 
Hương đạo trác dư anh vũ lạp, 
Bích ngô thê lão phụng hoàng chi. 
Giai nhân thập thuý xuân tương vấn, 
Tiên lữ đồng chu vãn cánh di. 
Thái bút tích tằng can khí tượng, 
Bạch đầu ngâm vọng khổ đê thuỳ.

Cảm xúc mùa thu kỳ 8
(Người dịch: Lê Nguyễn Lưu) 


Côn Ngô đất ngự trải du hành 
Tử Các yên trùm Mỹ thuỷ quanh 
Anh vũ mổ hoài mâm nếp trắng 
Phụng hoàng đậu mãi nhánh ngô xanh 
Giai nhân tặng thuý mừng xuân thắm 
Tiên lữ cùng thuyền dạo nắng hanh 
Vẫy bút xưa từng vang đế khuyết 
Bạc phơ mái tóc nhớ kinh thành! 

- dịch nghĩa

Thơ thẩn nơi Côn Ngô, nơi vua từng dạo chơi, 
Bóng núi Tử Các trùm đến sông Mỹ Bi, 
Chim anh vũ mổ mãi những hạt nếp thơm. 
Chim phụng hoàng đậu hoài trên cành ngô xanh. 
Người đẹp nhặt lông chim trả mùa xuân hỏi thăm nhau. 
Bạn tiên cùng ngồi thuyền chiều chiều đi chơi. 
Xưa từng vẫy bút làm xúc động nhà vua, 
Nay đầu bạc ngâm thơ tưởng nhớ, khốn khổ biết bao!

 
  Trở lại chuyên mục của : Văn Hùng Đốc