VÕ THẠNH VĂN
BÀI CA BÌNH BẮC #18


[Trần Khánh Dư, đoạt lương quân Nguyên, trận Vân Đồn, năm 1287]
“Có những hận lớn trong đời
Không dùng gươm không rửa được”
Hùng Sử Thi: VÕ THẠNH VĂN
Thắp hồng lạp viết sử ca
Bao mùa thắng trận vang xa cõi bờ
Hồn ma giặc cỏ dật dờ
Nửa khuya kêu khóc dâng tờ hàng thư
Nối phong lạp viết thương ca
Muôn đời đất Việt chan hòa minh tinh
Núi chung ứng -- Rừng chung linh
Chí cương. Chí đại. Chí thiêng. Chí mầu
Sử xưa bừng sáng sắc màu
Cuộc cờ thế sự -- Ruộng dâu tang điền
Cha Anh lương đống tôi hiền
Hươi gươm chém đứt xích xiềng giặc xâm
Nung gan vững -- Đúc phổi bền
Vung gươm chém nát chiến thuyền giặc Ngô
Giao Châu yên vững Vương Đồ
Nghìn thu còn gợn sóng xô Bạch Đằng
Quân Nam
Thênh thang khí tiết
Trừng mắt sáng ngời
Đoạt lương cứu nạn
Vỡ mật quân thù
Bừng sôi uất khí
Trường tại thiên thu
Địch kiêu binh -- Ta yểm binh
Dụng mưu trá tử thình lình vung đao
Chém quân. Phạt tướng. Vượt hào
Đánh quân cường bạo sóng trào sông sâu
Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư
Phường kim môn
Sân ngọc bội
Mưu sâu. Tài trí. Chước mầu
Sức trai vượng khí thông làu binh nhung
Đoạt lương. Cướp giáo
Phủ đầu. Dìm quân
Giặc xâm ngơ ngác bàng hoàng
Tưởng đâu ma thánh hiện thân quỷ thần
Đạp nhau chạy trốn rần rần
Xé cờ. Đốt giáp. Thoát thân. Chạy dài
Tàn dư ngơ ngác một bầy
Đứa xuôi Vạn Kiếp -- Đứa quày Quỳnh Châu
Đứa chết khát. Đứa chết chìm
Lang thang. Rách rưới. Nhược tim. Váng đầu
Một bầy mã liệt binh lao
Một bầy cuồng khấu vứt đao xé cờ
Quân Nam
Thành liền phóng một ngọn lao
Đồn quân ải lạnh khói trào lửa dâng
Ba quân vượt lũy đánh tràn
Ào ào thác đổ -- Ầm ầm băng sương
Chận thuyền giặc -- Đốt quân lương
Nhận chìm ngạo khí – Tuyệt đường kiêu binh
Chiếm thành giặc, ém trừu tinh
Tuyệt đường binh viện bạo cường tiếp hơi
Phun máu đỏ -- Lau gươm ngời
Làm cho địa chấn sập trời sấm rang
Quân Nam xuất quỷ nhập thần
Khiến cho giặc Bắc tản thần bẻ côn
Ngẩn ngơ. Bạt vía. Kinh hồn
Chết sông thuyền lật -- Chết đồn lửa nung
Dựng cờ súy -- Dương thế hùng
Nêu chính nghĩa – Biểu oai thần
Nương uy chính khí -- Gieo mầm chính tin
Dương cờ. Gióng trống. Dàn binh
Pháo ran. Nhạc ngựa. Voi rền. Quân qua
Thiên binh vạn mã gần xa
Triêu dương. Vỡ núi. Trăng tà. Quách xiêu
Kể từ đó
Thanh thế khoa trương
Hiệu cờ phất phới
Quân uy lẫm lẫm
Danh chấn mười phương
Lỡ đất long trời -- Núi tan đá chảy
Sông sôi sóng hận -- Biển tan bọt thù
Chân đạp đất -- Đầu đội trời
Tài trai kiếm kích chí dời Thái Sơn
Tướng soái nhà Nam
Nghiến răng
Trừng mắt
Báu đao. Ngạo khí. Nhất tề
Giương cung
Hươi kiếm
Giết thù
Lập công
Giang san lồng lộng trải
Sông nước dài thê thê
Nghìn năm, hề, muôn thuở
Cờ lộng, hề, vân nghê
Phun rượu thề -- Mài gươm thề
Rượu thề ngày ấy -- Trăng thề hôm nay
Gươm thề khuấy nước
Rượu thề thưởng quân
Phóng lao. Vung kích. Cướp đồn
Truy quân. Bắc tướng. Nhổ thành. Đốt lương
Hư trương thanh thế
Đả viện công đồn
Tiền phong hậu tập
Cắt giặc từng phân
Cỡi khoái thuyền nghênh bến sông
Đón cường khấu giữa lạch đầm bờ lau
Cầm Tặc Cầm Vương
Chém phăng bộ sậu
Lâu la như rắn mất đầu
Ba quân giặc cướp đạp nhau chạy dài
Gươm vương đạo cao lồng lộng
Dân Việt xây mộng thanh bình
Trải khắp núi, rừng, chằm, vũng
Nước Nam từ đấy ba miền yên vui
Giặc, nghịch thiên hành sự -- Bại
Ta, thừa thiên an mệnh -- Thắng
Địch, thảo tận lương tuyệt -- Đói
Ta, quân thừa, đạn dư -- No
Mạng người quý hơn đất
Mạng tướng quý hơn thành
Đốt lương địch, địch loạn
Triệt lương giặc, giặc tan
Chí ngất trời -- Khí trùm đất
Rừng thiêng kiếm kích -- Núi sông đao chùy
Biển Đông. Rừng Bắc. Nam thùy
Đầm xanh. Hồ gấm. Dậy mùi. Trường Nguyên
Hàng hàng lớp lớp xung thiên
Trai anh hùng gái thuyền quyên lâm hành
Nước Nam
Non sông nghìn dặm thẳm
Kinh sử vạn thu chung
Hàm Dương sởn tóc gáy
Thành Đô run rẩy chân
Trống xung trận lung lay thành giặc
Pháo công đồn phấn khích lòng quân
Quan. Dân. Sĩ. Tốt. Tôi. Thần
Trai hùng gái kiệt chung thân xây đời
Phù-hư dật-sĩ
VÕ THẠNH VĂN