c

 
Khúc [301]
 
THUYỀN QUYÊN, LIỆT NỮ
NAM NHI, ANH TÀI

 
“Tấm lòng nhi nữ
cũng xiêu anh hùng”
(ND)
 
Trai anh hùng. Gái thuyền quyên
Cỡi rồng. Sánh phượng. Tác nguyền. Xe tơ
 
Thanh gươm. Yên ngựa. Túi thơ
Sáng hâm kinh điển. Chiều hơ lửa lòng
 
Gặp nhau (từ thuở) long đong
(Thương nhau) chín nhớ mười mong (từng giờ)
 
Lụy nhau (từng buổi) nguyệt mờ
Khi hâm rượu ngọt. Khi chờ trăng tươi
 
Khi ẩn nhược. Lúc dương hư
[Núi sông. (Thế nước. Cơ trời). Lòng dân]
 
 
Khúc [302]
 
CUNG CÁCH HÀO SẢNG
TỪ HẢI TỎ TÌNH

 
“Rằng nghe
nổi tiếng má đào”
(ND)
 
Nghe đồn nức tiếng tài hoa
Cầm. Kỳ. Thi. Họa. Xướng. Ca. Luận. Bình
 
Phong hương huệ. Khép nhụy quỳnh
Bút vung (Nhã Tập Lan Đình) phụng bay
 
Biết nhau qua một chữ tài
Lụy nhau (thiên mệnh an bài) phút giây
 
Danh là đâu. Phận là đây
Nhà vàng đúc sẵn chờ ngày hưng binh
 
Nghiêng trời (vạch đất) oai linh
Xin dâng thành quách tỏ tình thuỷ chung
 
 
Khúc [303]
 
KIỀU, TỪ GẮN BÓ
TÌNH LỚN THEO NGÀY
 

“Muôn chung nghìn tứ
cũng là có nhau”
(ND)
 
Một đời được mấy anh hùng
(Quang. Minh. Chính. Đại. Khiêm. Cung. Trí. Cường)
 
Một rừng được mấy hoa vương
Tinh anh rắc gió. Sắc hương rây tình
 
Đêm trăng (ngày bướm) rập rình
Dựng gươm nốc rượu. Nghiêng bình cười khan
 
Chuyện đời, luận. Việc nước, bàn
Đồng thanh tương ứng. Đồng tâm tương cầu
 
Hơi kiếm lạnh. Sắc thép ngời
Hoành thương. Vạch đất. Chỉ trời. Xưng tên
 
 
Khúc [304]
 
ƠN NHAU TRI NGỘ
TRI KỶ, TRI ÂM

 
“Anh hùng
đoán giữa trần ai mới già”
(ND)
 
Nghe đàn trộm đã biết âm
Tri ngộ. Tri Kỷ. Tri tâm. Tri tình
 
Ai biết ta. Ai vì mình
Đãi nhau. (Vào bậc bố kinh). Hả lòng
 
Phải đâu (ong bướm) lượn vòng
Vờn quanh vườn mộng hoa tàn lại bay
 
Đã biết nhau. Sẽ vì nhau
Muôn chung nghìn tứ cũng san sẻ đều
 
Sống cho nhau. Chết vì nhau
Đầu tên. Mũi đạn. Hào sâu. Thành bằng
 
 
Khúc [305]
 
LẦU XANH THOÁT NẠN
TỪ HẢI CHUỘC KIỀU

 
“Tiền trăm
lại cứ nguyên ngân phát hoàn”
(ND)
 
Mặn mòi (cữ nước) tuần trăng
Anh hùng đương vận. Bóng Hằng đương xuân
 
Muôn chung. Nghìn tứ. Nghinh thân
Phận may. (Sánh phụng. Cỡi lân). Duyên thành
 
Gái thiên kim. Giá liên thành
Vàng mâm sính lễ. Thiếp danh trình vào
 
Bao năm (khổ nhục) lao đao
Biển khơi sóng lặng. Rừng cao gió lành
 
Có hoa. Có lá. Có cành
Có trăng. Có nước. Có tình. Có duyên
 
 
Khúc [306]
 
THUÝ KIỀU, TỪ HẢI  
XÂY TỔ UYÊN ƯƠNG

 
“Đặt giường thất bảo,
vây màn bát tiên”
(ND)
 
Giường thất bảo. Màn bát tiên
Nửa năm (nước nhược, đào nguyên) tuyệt trần
 
Đêm bắt bóng. Ngày nhiếp hồn
Bâng quơ hoa lạc. Bồn chồn hoa rơi
 
Khi bát rượu. Lúc cuộc cờ
Khi trà Long Tỉnh. Lúc thơ Thịnh Đường
 
Chờ dựng cõi. Đợi nghinh hôn
Giáp binh mười vạn, cung cong, dáo dài
 
Tiền hô. Hậu ủng. Cân đai
Đón nhau về chốn lân đài vầy duyên
 
 
Khúc [307]
 
NHỮNG NGÀY ĐẦM ẤM
HẠNH PHÚC ĐỜI KIỀU

 
“Nửa năm
hương lửa đương nồng”
(ND)
 
Trưa cờ thánh. Chiều rượu tiên
Sớm vầng mây bạc. Khuya viền trăng tươi
 
Ngày kinh điển. Tối binh thư
Môi kề. Má ấp. Miệng cười. Mắt đưa
 
Vừa mê mệt. Đủ say sưa
Mãi cho [(còn thiếu) - (chưa thừa)] tình si
 
Buổi thâm giao. Thuở xuân kỳ
Đàn ca. Xênh phách. Xiêm y. Nghê thường
 
Rượu. Trà. Tâm. Ý. Nhụy. Hương
Anh hùng (nhi nữ tình trường) thiên nhai
 
 
Khúc [308]
 
TỪ, KIỀU ĐỐI ẨM
KHOÁI LUẬN ANH HÙNG

 
“Côn quyền hơn sức,
lược thao gồm tài”
(ND)
 
Anh hùng (đứng giữa) trần ai
Như tùng. Như bách. Như mai. Như quỳnh
 
Không đua dáng. Không khoe hình
Thân cao. Đứng thẳng. Một mình. Nở đông
 
Không sợ gió. Chẳng ngại giông
Chém kình (chí cả). Cỡi rồng (tài cao)
 
Tiến. Lui. Xuất. Xử. Ra. Vào
Đeo gươm tể tướng. Khoát bào nguyên nhung
 
Hoành thương. Vạch đất. Xưng hùng
Trùng hưng cương thổ. Chấn hưng cương thùy
 
 
Khúc [309]
 
TỪ, KIỀU TRIẾT LUẬN
QUÂN TỬ, TIỂU NHÂN

 
“Những phường
giá áo túi cơm sá gì”
(ND)
 
Thanh gươm quân tử phù suy
Chước cao bình giặc. Mưu kỳ an dân
 
Lưỡi đao (phù thịnh) tiểu nhân
(Đâm thuê. Chém mướn. Tranh phần. Lập phe)
 
Chồn đàn (cáo lũ) kết bè
(Vây giương. Vuốt múa. Nanh nhe. Móng vờn)
 
Thanh gươm kiến nghĩa không sờn
Biên duyên trấn giữ. Giang sơn khuôn phò
 
Ra dũng tướng. Vào uyên nho
Triều cương lương đống. Cõi bờ cần vương
 
 
Khúc [310]
 
TỪ, KIỀU UỐNG RƯỢU
LUẬN BÀN BÁU ĐAO

 
“Làm cho
rõ mặt phi thường”
(ND)
 
Nguyên Nhung kiếm. Tể Tướng gươm
(Kiếm tanh gió lạnh. Gươm thơm sương ngần)
 
Tài vương tá. Chí kinh luân
Mưu cao Hàn Tín. Sức tràn Hạng Vương
 
Đường gươm (phỉ chí) tang bồng
Chỉ trời. Vạch đất. Xẻ sông. Phá thành
 
Rượu phun mài rợn thép xanh
Trăng nghiêng cảm khái. Sao chênh quan hoài
 
Đường gươm (vũ lộng) cõi ngoài
Rồng bay. Phượng múa. Lân xoay. Hổ vờn
 
 
Khúc [311]
 
ĐƯỜNG GƯƠM TỪ HẢI
CHỌC NƯỚC, KHUẤY TRỜI

 
“Gươm đàn nửa gánh,
non sông một chèo”
(ND)
 
Đường gươm (chênh chếch) phiêu bồng
Tuyết rơi. Mây cuộn. Gió lồng. Sương sa
 
Đao phong (vũ lộng) tài hoa
Chấn uy (một cõi năm toà) thành Nam
 
Vó tràn (ngựa đạp) quan san
Trèo đèo. Lội suối. Vượt ngàn. Băng sông
 
Chí trấn ải. Tài định sơn
Thanh gươm (ba thước chưa sờn) sức trai
 
Yên gió mỏng. Bờm tuyết dày
Trí mưu động địa. Sức tài kinh thiên
 
 
Khúc [312]
 
HẢI HỒ RÉO GỌI
MỘNG LỚN RA ĐI

 
“Trượng phu thoắt đã
động lòng bốn phương”
(ND)
 
Bỗng đâu (lửa ngất) khắp miền
Hải tần sấm dậy. Bưng biền sét rung
 
Ra đi hẹn cuộc trùng phùng
Tinh binh. (Mười vạn xưng hùng). Cõi riêng
 
Vung thương (trời ngửa) đất nghiêng
Hoành đao (Hậu Thổ, Hoàng Thiên) mỉm cười
 
Hé nghiêng (cổng gió) thấy trời
Chí trai vạn dặm tít vời bể Đông
 
Ra đi (cung kiếm) tang bồng
Ráng chiều (khói ửng vó hồng) áo sương
 
 
Khúc [313]
 
TỪ XÂY MỘNG LỚN
THUÝ KIỀU XIN THEO
 

“Chàng đi
thiếp cũng một lòng xin theo”
(ND)
 
Ngại hiên quạnh. Ngại lầu không
Ngại thân cô chiếc. Ngại phòng vắng tanh
 
Ngại đêm thẫm. Ngại chiều hoang
Ngại mình đơn lạnh. Ngại chàng trơ vơ
 
Kiều nguyền thắt chặt tóc tơ
Nguyện cùng (chia sớt nguy cơ) dặm đường
 
Rằng: Nhi nữ (thói) tình trường
Gươm đao. (Hung hiểm. Bất tường). Tai ương
 
Đợi thời nấn ná quạnh đơn
(Tím tê gối chiếc. Xanh rờn đệm riêng)
 
 
Khúc [314]
 
ĐẤT TỪ DẤY NGHIỆP
DANH THẮNG HÀNG CHÂU

 
“Ngất trời
sát khí mơ màng”
(ND)
 
Dân vi quý. Dân vi tiên
Vì dân. (Mài kiếm rửa phiền). Cứu dân
 
Tài muôn trượng. Chí nghìn cân
Vung đao. Chém tướng. Thu quân. Đoạt thành
 
Vì nghĩa lớn. Đem tài lành
Thanh gươm. Yên ngựa. Tương tranh. Trướng rồng
 
Ruỗi rong (dặm biếc) cồn hồng
Trăng treo bờm ngựa. Sao lồng mũi thương
 
Kể từ (vạch kiếm) xưng vương
Một miền cát cứ. Mười phương tụ về
 
 
Khúc [315]

BUỔI VẮNG TỪ HẢI
TÂM TƯ THUÝ KIỀU

 
“Đường kia nỗi nọ
ngổn ngang bời bời”
(ND)
 
Ru võng xuân. Đón gió hè
Hiên lan (trăng rụng dã dề) mù sa
 
Đưa tay vén bức rèm là
Khôn ngăn (giọt lệ thương nhà) nhớ quê
 
Mây Tần. (Khói núi). Sương khe
Tới lui mộng mị. Đi về chiêm bao
 
Má môi (hồng ửng) nụ đào
Vai trầm mây quyện. Tóc thao gió về
 
Ngổn ngang (trăm mối) ê chề
Lầu văn nến lụn. Phòng khuê hương ngần
 
 
Khúc [316]
 
LÒNG KIỀU QUẶN NHỚ
BÓNG HÌNH SONG THÂN

 
“Sân lai
cách mấy nắng mưa”
(ND)
 
Song thưa (thấp thoáng) mây Tần
Ngẩn ngơ mực sớm. Bần thần thơ khuya
 
Gốc phần. (Cố lý). Hương xưa
Sớm hôm (hầu hạ nắng mưa) ai người
 
So đo (đếm tóc) nhớ thời
Tiếng ru (võng mẹ à ơi) ngọt bùi
 
Trăm thương (nghìn nhớ) ngùi ngùi
Dáng cha (vất vả ngược xuôi) phương trời
 
Quê xưa (vườn Thuý) xa xôi
Nhớ cha. Nhớ mẹ. Nhớ người. Nhớ em
 
 
Khúc [317]
 
LÒNG KIỀU THƯƠNG NHỚ
HAI EM VÂN, QUAN

 
“Đã mòn con mắt
phương trời đăm đăm”
(ND)
 
Biết giờ (hương sắc) còn tươi
Biết tình (buổi ấy, bây chừ) đơm hoa
 
Sôi kinh (nấu sử) nếp nhà
Đèn mờ viện sách. Trăng tà thư hiên
 
Chờ tình ủ mộng lương duyên
Chờ mùa (khoa bảng lệnh truyền) trường thi
 
Chờ hoa (nở kịp) xuân thì
Chờ ngày (bái tổ vinh quy) miếu đường
 
Ví bằng (cách trở) âm dương
Gượng cười cõi thế. Ngậm gương cửu tuyền
 
 
Khúc [318]
 
HÌNH ẢNH KIM TRỌNG
NGƯỜI TÌNH NĂM XƯA

 
“Dẫu lìa ngỏ ý
còn vương tơ lòng”
(ND)
 
Nầy tình. (Nầy nghĩa). Nầy duyên
Nầy người buổi mới gặp miền cỏ non
 
Hiên Lãm Thuý. Khoá lầu son
Vườn sau. Cổng trước. Giả sơn. Nách tường
 
Trang văn. Mực đọng. Nét vương
Nguyệt sơ vĩnh thệ rũ buồn mắt môi
 
Liêu Dương mộng nhớ dáng người
Lời chung (non nước còn tươi) trăng nguyền
 
Ba sinh nguyện ước còn nguyên
Xuyến vàng. Khăn lụa. Tờ nguyền. Rượu mê
 
 
Khúc [319]
 
QUÊ XƯA, VƯỜN THUÝ
GÁC SÁCH, LẦU VĂN

 
“Hồn quê
theo ngọn mây Tần xa xa”
(ND)
 
Hiên xưa (còn ngát) hương thề
Gác xưa án sách còn thê thiết chờ
 
Lầu xưa tròn mảnh trăng mơ
Sân xưa (rêu đá vẫn trơ) gan tình
 
Rã rời nguyện ước ba sinh
Nổi trôi. (Ai biết duyên mình). Phận ai
 
Quê hương (vạn dặm) đường dài
Ngõ xưa. Vườn thuý. Nguyệt đài. Lầu gương
 
Lư xưa. (Trầm cũ). Phòng hương
Ngẩn ngơ giàn lý. Vấn vương gốc phần
 
 
Khúc [320]
 
TỪ HẢI THOẢ NGUYỆN
MƯỜI VẠN QUÂN THAO

 
“Đầy sông kình ngạc,
chật đường giáp binh”
(ND)
 
Lọng. Cờ. Pháo. Mã. Rồng. Lân
Tinh binh (mười vạn rần rần) thác tuôn
 
Ngựa xe (nghiêng suối) lệch nguồn
Một miền oai chấn. Mười phương qui hàng
 
Chí trai (vạn dặm) ngang tàng
Tài nầy, sức ấy dọc ngang biên thuỳ
 
Đất trời (sấm động) binh uy
Việt Đông một giải. Lâm Truy nối liền
 
Hàng hàng. (Lớp lớp). Quân nghiêm
Gươm thiêng cát lộng. Thành nghiêng đá gầm
 



 
  Trở lại chuyên mục của : Võ Thạnh Văn