BÙI THANH XUÂN

 

LỔ CHÓ

 

Chỉ bằng một hàng cây mong manh, thấp lè tè. Hoặc một bức tường kiên cố. Hoặc một hàng rào dây kẽm gai. Ranh giới được chỉ rõ mà không cần một biển cấm nào.

Giữa ranh giới ấy có một cái “lổ chó”, không hiểu do con người hoặc bọn chó khoét lổ để chui qua bên kia. Nó bất khả xâm phạm nếu chưa được cấp cái "visa". Bên kia hàng rào, địa phận hàng xóm. Đó là “cửa khẩu” hai nhà hàng xóm.

Nhiều chục năm trước, những hàng rào nhà này, nhà kia đơn giản. Một dãy chè tàu, một hàng dâm bụt là ranh giới mềm mỏng. Bởi cái tình làng nghĩa xóm. Tình người thể hiện qua màu xanh cây lá, hàng bông. Có những cửa khauur dành riêng cho hai nhà láng giềng qua lại. To hoặc nhỏ, tùy nghệ thuật và tình cảm của họ.

"Lổ chó" nhưng không phải chỉ dành riêng cho chó. Bọn trẻ con thích chui lổ chó, để từ nhà này qua nhà kia đùa nghịch. Những chàng trai, thập thò sau nhà, rụt rè chui lổ chó, qua hẹn hò với cô gái xuân thì. Những mối tình đẹp, thơ mộng, có khi đi vào văn chương, cũng từ cái lổ chó mà có.

Nhiều đôi vợ chồng già, thỉnh thoảng cãi nhau lại đem cái lổ chó ra nhắc, mà hành hạ. "Ai biểu ông chui lổ chó?". " Ai sai bà chờ miệng lổ chó chớ".

Hàng rào dâm bụt, dãy chè tàu đã là quá khứ. Những mối tình sau bụi chuối. bờ tre cũng không còn.

Ngày nay, những hàng rào bê tông, sắt thép kiên cố, cao nghệu phân định ranh giới rõ hơn. Nó phân định cả lòng người cao thấp. Lổ chó bây giờ ở trên net. Thậm chí trong nhà trọ, khách sạn. Nó đơn giãn, nhanh gọn lẹ hơn.

Tiếc cho cái lổ chó không chỉ dành cho chó.


TẤM VÁN

 

Chẳng làm khổ, mắc lòng ai. Tấm ván chỉ làm cái thân lót qua mương cống, cho người đời đạp lên lưng mà đi. Có người thương nó, đi nhẹ nhàng, chậm rãi. Có người chẳng quan tâm lắm, có ván bắt cầu là vượt qua, họ chạy thật nhanh. Nhưng cũng có người thong dong, đủng đỉnh lắc cái mông, đứng trên lưng nó. Họ đi qua, rút ván vứt bỏ đi.

Bọn họ nhờ nó mà qua mương, qua suối. Rồi đi, chẳng buồn quay đầu lại nhìn nó, cám ơn.

Khi ván mục, người ta vứt nó bên vệ đường, tìm tấm ván khác.

Sự bội bạc của con người thể hiện rõ trong các quan hệ, nhờ xong rồi thôi. Họ quên nhanh, quên phủ phàng.

Khi cần thì tha thiết, quỳ lạy, van xin nhờ vã. Đạt được rồi thì quay lưng hoặc hạ bệ không thương tiếc, coi ân nhân mình như tấm ván lót đường, không nhờ nữa, vứt qua bên. Họ không cần nhớ những lúc khó khăn qua sông, qua mương cần miếng ván làm cầu.

Lưu Bình, Dương Lễ chỉ có trong cổ tích. Ngoài xã hội cũng có lắm Dương Lễ, Lưu Bình. Nhưng cả hai cùng đóng kịch tình thân, mến thương. Hiếm hoi một người bạn tri kỉ.

Đừng tin vào những lời tốt đẹp của người đối diện mình nói về mình. Hãy lắng nghe và suy ngẫm người ấy nói những điều không tốt về người khác vắng mặt.

Không thiếu những bộ mặt dối trá xấu xa, nó quanh quẩn bên ta, thậm chí là bạn ta. Mà thường thì ta hay vỗ tay a dua theo những điều xấu xa của họ. Vỗ tay, a dua nhưng ta lại nguyền rủa họ "Đồ đê tiện". Chính ta cũng một thứ đê tiện chẳng khác gì ai

Ông thường nhìn những việc người khác làm hơn là nghe họ nói, để thấy thật giả khôn lường.

Một xã hội ma quỷ nhiều như người. Bọn họ khá đông, mưu mô độc ác, dối trá, máu lạnh, ích kỉ. Nhưng bọn họ lại thích nói lời bác học, đạo đức. Bọn họ qua cầu giấu ván, chứ chẳng rút bỏ qua bên, cho người khác còn nhờ

Tình thương mến thương à? Tệ hơn vợ thằng Đậu. Tìm đâu ra trong cái thời buổi hỗn mang này.

Có mà tình lòng xào nghệ.


NHỮNG NGÔI MỘ HOANG

 

Khu nghĩa địa nằm trong bãi cát rộng mênh mông, vùng ven phía Nam Hội An. Không nhiều mồ mã lắm. Có những ngôi mộ không ai hương khói của người Hoa, chôn cất nơi đây hàng trăm năm trước. Bia mộ vẫn còn, ghi chữ Tàu nên ông không đọc được.

Mộ Ba ông ở nghĩa trang Tứ Bang. Khu đất bị giải tỏa, ông dời vào khu đất trống trong nghĩa địa này, bên cạnh những ngôi mộ vô chủ. Mỗi năm vài ba lần, ông vào viếng mộ cha. Bảy ngôi mộ hoang cũng được ông dọn dẹp sạch cỏ, vun nấm lại. Trâu bò thường vào đây ăn cỏ, san bằng mộ, chỉ còn tấm bia.

Bốn mươi năm sau, ngôi chùa bên cạnh được phép mở rộng khuôn viên. Những ngôi mộ quanh đó, thân nhân ai muốn dời đi, nhà chùa sẽ hổ trợ. Bao nhiêu thì ông không biết, chưa lần nào mấy sư trong chùa gặp được ông để thỏa thuân. Ông không muốn dời mộ cha mình đi nơi khác. Được vào trong khuôn viên chùa là phước rồi.

Người dân chung quanh chùa nói rằng, những phần đất mộ dời đi, có thể bán lại cho người khác với giá ba trăm triệu. Chuyện này, ông chỉ nghe, không rõ ràng lắm. Những ngôi mộ cũ trong chùa, khang trang, sạch sẽ. Ba ngôi mộ người thân cuả ông nằm góc sân, giữa bãi cỏ um tùm. Mỗi năm hai lần, ông thuê người dọn dẹp. Nhưng những ngôi mộ hoang thì khác. Cỏ lên che lấp kín mít, khó nhìn thấy. Người trong chùa, không biết ai, phát cỏ, cố tình vứt nhánh cây, cỏ lên mộ. Hình như họ muốn hủy hoại dần những ngôi mộ hoang đó.

Chạnh nghĩ, nếu các vị sư trong chùa có tâm, mỗi năm, họ dành một buổi dọn dẹp đám cỏ hoang cho những ngôi mộ vắng chủ. Thắp nén nhang, giúp cho những vong hồn không ai thăm viếng đó đỡ tủi thân, an vui trong những ngày Tết. Nhưng những vị sư vai u, thịt bắp, vẫn thơ ơ. Họ vui vẻ, đón tiếp những tín đồ đi những chiếc ô tô sang trọng, đậu trong sân chùa. Với bảy ngôi mộ hoang, họ coi như bảy cái gai trong mắt họ.

Tháng trước, sắp đến ngày giỗ cha, ông thuê người vào chăm sóc mộ. Thập thò ngoài cổng chùa, ông ngại gặp mấy vị sư. Xong, ông vào thắp nhang cho người thân. Nhìn mấy ngôi mộ hoang, chạnh lòng. 

Chùa luôn rộng mở, nhưng lòng từ bi của các vị sư ở đâu?

Sư ngày trước và sư bây giờ, khác nhau quá.

 
  Trở lại chuyên mục của : Bùi Thanh Xuân