BÙI THANH XUÂN
KHÁCH CÙNG QUÊ
Bất ngờ, lần thứ hai, ông tiếp một người khách cùng quê. Người khách ông không mong đợi. Gọi người ấy là bà con bên nội cũng được. Không phải cũng được. Chẳng là người đàn ông ta, cháu chắt gì đó xa lơ, xa lắc với bà Nội ông, từ ngoài bắc vừa mới vào định cư ở thành phố này. Ông không vồn vã, trịnh trọng đón tiếp. Chỉ dăm ba câu chuyện về quê hương, thời tiết nắng mưa.
Hơn bốn mươi năm trước, khách công tác, ghé thăm. Chẳng hiểu ai đã chỉ đường cho gã tìm đến, để gọi là tìm bà con bên nội. Có bà con không,? Ông không biết. Nhớ lời Ba ông kể lại, bên nội không còn ai, chỉ hai anh em dắt díu vào Nam năm 1947. Vậy mà có người nhận bà con, ông thấy lạ.
Lúc đó, vợ chồng ông vừa có cô con gái đầu lòng, nhà nhỏ, chật hẹp, nhưng cũng cố cho khach ở lại vài hôm. Chuyện ăn nhậu, chuyện ở đôi ngày. Ông không vui, cũng chẳng buồn. Chỉ nhớ rằng, khách đi, ông cày bừa khốn khổ thêm cả tháng để trả tiền ăn nhậu. Thôi thì, cũng người cùng quê. Với lại lúc đó khách trong lành, nghèo rách quá.
Bây giờ thì khác. Khách phương phi, đẹp lão, giàu có hơn. Khách khoe mua được hai miếng đất bên kia sông Hàn, có giá trị bảy trăm ngàn đô. Ông cười.
Thôi thì chúc mừng khách cho có lệ. Khách hỏi:
-Anh có muốn về quê thăm mồ mã ông bà không?
-Cũng định. Về mấy lần rồi, nhưng buồn quá.
-Nghĩa trang bây giờ xây lại đẹp lắm. Tất cả các mộ ghép đá hoa cương.
Ông đáp nhẹ tênh:
-Vậy à?
-Con cháu đóng góp ít thôi, cho có lệ. Chi phí gần như do một người tài trợ. Anh còn nhớ bà V.không?
-À, tôi nhớ.
Ông nhớ.
Lần đầu về thăm quê, nhìn căn nhà ọp ẹp của bà V. ông chạnh lòng. Ba mươi lăm năm sau về thăm quê, ngang qua con đường cũ, ngôi biệt thự cổng kín, tường cao, chó dữ, khiến ông bối rối, không dám vào thăm.
Mộ ông Nội đơn sơ ở nghĩa trang tộc. Không hoành tráng, nhưng hiền hòa. Mộ bà Nội nằm riêng bên gia tộc của bà, cách đó vài trăm mét. Ông biết, những ngôi mộ được xây bằng những đồng tiền không sạch sẽ lắm. Có khi đẫm nuớc mắt hay cả lời nguyền rủa của người khác. Năm ngoái, được anh em trong tộc họ gởi cho ông cái clip quay nghĩa trang tộc. Người ta tự hào là nhà thờ tộc lớn nhất, giá trị nhất VN được xây dựng bằng gỗ quý. Chi phí xây dựng lên đến
hàng trăm tỷ đồng. Màu của các loại đồ gỗ quý trong các biệt phu, nhà thờ tộc̉ có cùng màu với nước lũ .Đó là trộn lẫn màu xanh của cây rừng, sông suối quyện với đất bùn và hòa cùng màu của máu đỏ.
Bà con trong tộc họ, hàng ngàn người vẫn còn nơi đầu non, góc bể, vất vả kiếm sống. Phải chi đồng tiền đó, trích ra một nửa, giúp cho họ có một cơ hội, chắc tổ tiên, Ông Bà mỉm cười, mãn nguyện hơn.
Phú quý sinh lễ nghĩa. Bần cùng sinh đạo tặc, đừng hỏi tại sao?
.........
LỔ CHÓ
Chỉ bằng một hàng cây mong manh, thấp lè tè. Hoặc một bức tường kiên cố. Hoặc một hàng rào dây kẽm gai. Ranh giới được chỉ rõ mà không cần một biển cấm nào.
Giữa ranh giới ấy có một cái “lổ chó”, không hiểu do con người hoặc bọn chó khoét lổ để chui qua bên kia. Nó bất khả xâm phạm nếu chưa được cấp cái "visa". Bên kia hàng rào, địa phận hàng xóm. Đó là “cửa khẩu” hai nhà hàng xóm.
Nhiều chục năm trước, những hàng rào nhà này, nhà kia đơn giản. Một dãy chè tàu, một hàng dâm bụt là ranh giới mềm mỏng. Bởi cái tình làng nghĩa xóm. Tình người thể hiện qua màu xanh cây lá, hàng bông. Có những cửa khauur dành riêng cho hai nhà láng giềng qua lại. To hoặc nhỏ, tùy nghệ thuật và tình cảm của họ.
"Lổ chó" nhưng không phải chỉ dành riêng cho chó. Bọn trẻ con thích chui lổ chó, để từ nhà này qua nhà kia đùa nghịch. Những chàng trai, thập thò sau nhà, rụt rè chui lổ chó, qua hẹn hò với cô gái xuân thì. Những mối tình đẹp, thơ mộng, có khi đi vào văn chương, cũng từ cái lổ chó mà có.
Nhiều đôi vợ chồng già, thỉnh thoảng cãi nhau lại đem cái lổ chó ra nhắc, mà hành hạ. "Ai biểu ông chui lổ chó?". " Ai sai bà chờ miệng lổ chó chớ".
Hàng rào dâm bụt, dãy chè tàu đã là quá khứ. Những mối tình sau bụi chuối. bờ tre cũng không còn.
Ngày nay, những hàng rào bê tông, sắt thép kiên cố, cao nghệu phân định ranh giới rõ hơn. Nó phân định cả lòng người cao thấp. Lổ chó bây giờ ở trên net. Thậm chí trong nhà trọ, khách sạn. Nó đơn giãn, nhanh gọn lẹ hơn.
Tiếc cho cái lổ chó không chỉ dành cho chó.
TẤM VÁN
Chẳng làm khổ, mắc lòng ai. Tấm ván chỉ làm cái thân lót qua mương cống, cho người đời đạp lên lưng mà đi. Có người thương nó, đi nhẹ nhàng, chậm rãi. Có người chẳng quan tâm lắm, có ván bắt cầu là vượt qua, họ chạy thật nhanh. Nhưng cũng có người thong dong, đủng đỉnh lắc cái mông, đứng trên lưng nó. Họ đi qua, rút ván vứt bỏ đi. Bọn họ nhờ nó mà qua mương, qua suối. Rồi đi, chẳng buồn quay đầu lại nhìn nó, cám ơn.
Khi ván mục, người ta vứt nó bên vệ đường, tìm tấm ván khác.
Sự bội bạc của con người thể hiện rõ trong các quan hệ, nhờ xong rồi thôi. Họ quên nhanh, quên phũ phàng.
Khi cần thì tha thiết, quỳ lạy, van xin nhờ vã. Đạt được rồi thì quay lưng hoặc hạ bệ không thương tiếc, coi ân nhân mình như tấm ván lót đường, không nhờ nữa, vứt qua bên. Họ không cần nhớ những lúc khó khăn qua sông, qua mương cần miếng ván làm cầu.
Lưu Bình, Dương Lễ chỉ có trong cổ tích. Ngoài xã hội cũng có lắm Dương Lễ, Lưu Bình. Nhưng cả hai cùng đóng kịch tình thân, mến thương. Hiếm hoi một người bạn tri kỉ.
Đừng tin vào những lời tốt đẹp của người đối diện mình nói về mình. Hãy lắng nghe và suy ngẫm người ấy nói những điều không tốt về người khác vắng mặt.
Không thiếu những bộ mặt dối trá xấu xa, nó quanh quẩn bên ta, thậm chí là bạn ta. Mà thường thì ta hay vỗ tay a dua theo những điều xấu xa của họ. Vỗ tay, a dua nhưng ta lại nguyền rủa họ "Đồ đê tiện". Chính ta cũng một thứ đê tiện chẳng khác gì ai
Ông thường nhìn những việc người khác làm hơn là nghe họ nói, để thấy thật giả khôn lường.
Một xã hội ma quỷ nhiều như người. Bọn họ khá đông, mưu mô độc ác, dối trá, máu lạnh, ích kỉ.
Nhưng bọn họ lại thích nói lời bác học, đạo đức. Bọn họ qua cầu giấu ván, chứ chẳng rút bỏ qua bên, cho người khác còn nhờ
Tình thương mến thương à? Tệ hơn vợ thằng Đậu. Tìm đâu ra trong cái thời buổi hỗn mang này.
Có mà tình lòng xào nghệ.