KHA TIỆM LY

MÌNH ƠI:
TẢN MẠN VỀ ĐẤT PHƯƠNG NAM
 
* Có nhiều chi tiết tôi trình bày theo hiểu biết riêng của mình nên có thể sai sót. Mong quý bạn chỉ bảo thêm / Thành thật biết ơn
****
Trong quán “Bún cá Hà Tiên” – món đặc sản của Kiên Giang. Phu nhân gắp hầu hư muốn hết số cá, tép, từ tô của mình sang tô của chồng; thám hoa nhăn mặt, nói nhỏ:
- Sao mình gắp bỏ cho anh hoài, mình ăn đi chớ. Anh không chịu đâu.
- Mình làm việc nhiều thì nên ăn nhiều. Mình ăn nhiều, có sức khỏe nhiều em cũng có lợi mà.
- Giữ đường giữa chợ không được nói khùng nhe!
- Ô, cái ông thám hoa nầy chuyên nghĩ bậy: Mình ăn có sức khỏe thì mình không bịnh, em không bận chăm sóc. Vậy không có lợi cho em à? Bỏ đi! Hà Tiên đẹp quá mình há? Sao lại có tên là “Hà Tiên” vậy mình?
- Có nhiều thuyết giải thích, nhưng có lẽ Hà Tiên là đọc trại chữ “Tà Teng” mà ra: Tà là con sông; Teng là tên sông. Tà Teng là sông Teng!
- Chớ không phải con sông nầy phong cảnh hữu tình nên tiên nữ trên trời thường xuống tắm mà có tên Hà Tiên sao?
- Hiii! Ban đầu thì họ nghĩ vậy, nhưng sau đó họ thấy không có nàng tiên nào đẹp bằng ái nữ của La thượng thư nên họ không tin thuyết nầy nữa, xem đó là sự giải thích cho vui thôi! He he…
Có mấy cô gái bàn bên nhìn qua mỉm cười. Phu nhân đỏ mặt:
- Nếu khoa thi đình mà có môn “nịnh” thì thám hoa nhà ta đã đậu trạng nguyên rồi! Dài dòng quá! Hãy nói cho em biết: Có phải đất Hà Tiên nầy là do Mạc Cửu tìm ra hay không?
- Khi nhà Thanh bên Tàu diệt nhà Minh, Mạc Cửu (Mạc Kính Cửu) (1655 - 1735); , huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, không chịu theo “tân pháp” của nhà Thanh, nên khoảng năm 1671 bèn mang gia quyến, tùy tùng lên thuyền xuôi Nam tìm đất sống. Cuối cùng ông chọn đất Mường Khảm (HàTiên), vốn là vùng đất hoang vu cùa Chân Lạp từ lâu đời mà lập nghiệp .
Ông bỏ tiền ra mua chức quan, rồi chiêu mộ lưu dân tứ xứ về khai hoang tự do, không thu thuể, cho nên chỉ vài chục năm sau, đất Mường Khảm đã là trung tâm trù phú của một vùng rộng lớn trải dài ven biển từ Kompongsom (Chân Lạp) về tận Cà Mau.
Lúc đó, Triều đình Chân Lạp suy yếu, không đủ sức bảo vệ Mường Khảm do quân Xiêm thường xuyên cướp phá. “Nhận thấy muốn tồn tại cần phải có thế lực đủ mạnh để bảo vệ, che chở cho lãnh địa mà ông đã tốn công gây dựng. Sau khi cân nhắc, năm 1708 Mạc Cửu sai hai thuộc hạ là Trương Cầu, Lý Xá dâng biểu trần trình lên kinh đô Phú Xuân, khẩn cầu xin được đứng đầu trông coi đất ấy”.
Tháng 8 mùa thu Mậu Tý (1708), chúa Nguyễn Phúc Chu, chuẩn ban cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước là Cửu Ngọc hầu. Mạc Cửu lo xây dựng dinh ngũ và đóng binh tại Phương Thành (Hà Tiên), từ đó dân càng qui tụ đông đúc” (Theo Wikipedia)
Từ đó Hà Tiên là của Việt Nam! Như vậy, có thể nói, nhà Nguyễn không tốn một giọt mồ hôi, mà lại được một vùng trù phú rông lớn ở phương Nam!
“Khi Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ lại được làm chức đô đốc, tiếp tục cai quản Hà Tiên. Từ năm 1735 – 1739, Mạc Thiên Tứ mở rộng đất đai kiểm soát của mình sang bán đảo Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ. Đưa thêm các vùng đất mới nầy vào Trấn Hà Tiên thuộc lãnh thổ Đàng Trong”.
Như vậy. Mạc Cửu không phải là người “tìm ra” Hà Tiên. Nói ông là “người có công khai phá” mới đúng.
Phu nhân gật gù:
- Phải nói nhà Nguyễn xử sự rất khôn khéo với Mạc Cửu. Nếu nhà Nguyễn dùng chánh sách “bá đạo”: Ban đầu dụ cho thần phục, rồi sau giết chết, thi hậu quả khó ai biết được!
- Đúng! Trước Mạc Cửu, năm 1756, khi người Côn Man (người Chăm ở Chân Lạp) bị quân Chân Lạp đuổi đánh, chúa Nguyễn đã cưu mang họ và đưa họ về định cư ở Châu Đốc và Tây Ninh. Sau Mạc Cửu, năm 1679 có các quan nhà Minh là Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên; họ không chịu làm tôi nhà Thanh, bèn đem 3.000 người cùng 50 chiếc thuyền sang xin ở làm dân Đại Việt. Chúa Nguyễn Phúc Tần bèn cho vào ở đất Đông Phố (Gia Định), Đồng Nai, Biên Hòa, Mỹ Tho (Tiền Giang).
Họ khai phá, cày ruộng, làm nhà, lập phố phường, mấy chốc, những nơi nầy đã thành những vùng trù phú, sầm uất, lôi kéo người phương Tây, Nhật Bản, Chà Và đến buôn bán.
Nhớ rằng, đất nước Chân Lạp thời đó rất lớn: Lục Chân Lạp gồm bắc Kampuchia ngày nay (thực tế thì lớn hơn nữa), và Thủy Chân Lạp, gồm nam Kampuchia ngày nay và cả miền Nam VN bây giờ. Nhưng vì quân yếu, dân ít, nên họ KHÔNG KIỂM SÓAT ĐƯỢC HẾT LÃNH THỔ CỦA MÌNH, nên đất đai măc dù là của họ, nhưng thực ra là VÔ CHỦ! Điều nầy đã tạo điều kiện thuận lợi cho họ Mạc khai phá ở miền Tây, và cho Chúa Nguyễn ở miền Đông (qua các lưu dân và các tướng nhà Minh quy phục). Nói chung là toàn bộ Nam Kỳ!
- Như vậy Chúa Nguyễn “chiếm” cả miền Nam, không tốn một mũi tên?
- Không hẳn như vậy! Không có vinh quang nào mà không phải tốn mồ hôi, xương máu và mưu trí cả: Nội bộ vương quốc Chân Lap vốn tranh giành nhau, họ hiếu chiến, hiếu sát nên suy yếu; nhưng mỗi khi thế lực hồi phục lại thì họ đem quân sang đánh chúa Nguyễn; nhưng lần nào cũng thất bại và phải cắt đất cầu hòa!
Một đám cưới có tính toán là Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên là quyết định gả Hoàng Nữ Ngọc Vạn cho vua Cao Miên Chey Chetta II vào năm 1620. Từ đó quá trình Nam Tiến càng thuận lợi và kết thúc vào năm 1758 Đó là anh chỉ phát họa rất sơ sài, nếu muốn tìm hiểu thêm thì… lật sách mà coi!
- Nói chuyện huề trất! Theo em hiểu thì đất Thủy Chân Lạp vẫn có người Miên sinh sống, sao gọi là “vô chủ”?
- Dân tùy thuộc vào chánh quyền chớ không tùy thuộc vào đất họ ở: Người dân đóng thuế cho chánh quyền nào thì chánh quyền đó là chủ của họ. Nơi nào chánh quyền không thu thuế, là đất vô chủ. Người ngoại quốc cư trú tại Đại Việt, chánh quyền Đại Việt thu thuể họ vì đất Đại Việt là triều đình Đại Việt (họ trốn thuế là việc khác).
Năm 1658, sau khi giúp hoàng thân Chân Lạp là Barom Reachea VIII lên ngôi, đáp lại vị vua mới của nầy đã ký hiệp ước triều cống chúa Nguyễn hàng năm và cho phép người Việt được làm chủ vùng đất đã khai hoang ở Sài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa. Tại khu vực này lưu dân Việt sinh sống ngày càng đông đúc, CÓ CẢ NGƯỜI MIÊN, chúa Nguyễn đã phải cử một đội quân hùng mạnh để giữ gìn an ninh cũng như đặt các quan cai trị và THU THUẾ. Người Miên tại đây CŨNG PHẢI ĐÓNG THUẾ cho chúa Nguyễn, vì chúa Nguyễn là chủ đầt nầy.
- Nghe nói, người Miên thuở ấy hễ thấy người Việt cất nhà gần mình thì họ tự động dọn nhà đi chỗ khác, vì họ nói người Việt “ở dơ”, hay quăng những đồ phế thải quanh nhà họ. Người Việt lợi dụng thói quen nầy của người Miên, nên cứ “đuổi” họ đi bằng cách đó?
- Anh không tin! Thứ nhất, công bằng mà nói thì văn hóa “bà con xa không bằng lối xóm ở gần” của người Việt mình đến bây giờ vẫn còn nguyên vẹn. Thứ hai, tâm lý của những người tiền phong mở cõi là thêm bạn bớt thù; họ không dại dột gì gây “mất đoàn kết” với người bản xứ.
“E hèm” một cái thiệt dài, bèn hỏi lại :
- Sao mình không hỏi vì sao chúa Nguyễn lại được miền Nam thuận lợi như vậy?
- OK, vì sao?
- Chỉ vì đội ngũ các chúa Nguyễn và quan lại dưới quyền đều là những người CÓ THỰC TÀI kinh bang tế thế, YÊU NƯỚC, YÊU DÂN; họ đặt quyền lợi tổ quốc lên trên quyền lợi cá nhân mình. Đất lành chim đậu! Dân Ngũ Quãng, cộng thêm người Hoa ùn ùn kéo vào, làm cho thời gian biến đất hoang thành trù phú càng sớm hơn.
- Sao mở bờ cõi lại “Nam tiến” mà không “Bắc tiến”?
- Lại hỏi khó rồi! Phía Bắc là nước lớn, hung ác. Mình giữ biên thùy còn khó, làm sao “Bắc Tiến”? Phía đông là biển, phía tây là Trường Sơn; cả hai đều là chướng ngại lớn; chỉ có xuôi Nam là thuận lợi mà thôi.
- Em thấy mình kể nãy giờ thì Đại Việt đâu có xua quân chiếm Thủy Chân Lạp lần nào, mà sao có người lại nói Đại Việt dùng binh lực để cướp Thủy Chân Lạp vậy?
- Đó chỉ là cách kích động hận thù dân tộc, chia rẽ tình hữu nghị hai nước đó thôi.
- Vậy bản đồ Đại Việt rộng nhất là thời nào vậy mình?
- Vào năm 1835 (thời Minh Mạng). diện tích lãnh thổ Việt Nam là lớn nhất, với diện tích hơn 575 ngàn cây số vuông (gấp đôi bây giờ). Nó bao gồm một phần lãnh thổ Ai Lao và hầu như gần hết lãnh thổ của nước Campuchia. Vua Minh Mạng đổi quốc hiệu là Đại Nam (nước Việt Nam rộng lớn) vì lý do nầy.
Bởi các chúa Nguyễn có công khai phá Miền Nam, một miền được thiên nhiên ưu đãi:
Mưa thuận gió hòa, lúa nặng oằn bông, cây lành trái ngọt, nên người ta gọi đất Miên Nam là “đất của chúa Nguyễn” để tỏ lòng biết ơn.
Một linh mục ngưởi Pháp sau khi quan sát miền Nam, bèn về tâu với hoàng đế của họ rằng: “Đất Nam Kỳ mầu mỡ đến nỗi chỉ cần cắm CÂY DÙ xuống cũng có trái mà ăn!”. Đây là một trong những nguyên nhân Pháp xâm chiếm Việt Nam.
Cuộc Nam Tiến kéo dài gần 700 năm (1069-1758) đã tốn biết bao máu xương cho giống nòi của cả hai bên THUA, ĐƯỢC. Kẻ hậu sinh chúng ta rút ra được bài học gì? Về phương diện dân tộc, chúng ta - kẻ thắng – đều tự hào; nhưng về phương diên nhân loại, xóa sổ một dân tộc, thì ai cũng phải đau xót, xấu hổ, cảm thấy mình tàn nhẫn, ác độc, nếu còn chút tính người!
Bài học về bên thua? Cắt đất tổ quốc cho địch là một viêc làm rồ dại dù với bất cứ lý do gì (làm sính lễ, cầu hòa, “đền ơn”…): gương Chiêm Thành còn đây, gương Cao Miên còn đó!
- Thôi em trả tiền rồi mình đi nhe mình? (nói nhỏ hơn) Ăn có hai tô bún mà ngồi cả tiếng đồng hồ, chủ quán quánh chạy không kịp đó!
Thám hoa cười hiền:
- Không sao đâu mình. Người miền Tây chất phác hiền hòa, trọng nghĩa khinh tài, lòng đầy liêm sỉ, máu tràn khí phách. Nếu ai lỡ ăn rồi mà phát hiện mình quên đem tiền, có thể họ cho mình mượn tiền về nhà nữa đó. Thử xem!
Phu nhân chúm miêng cười thật đẹp:
- Em biết mà, bởi vậy nên em thương cái ông miền Tây nầy nè! Nhưng miền Tây hồi xưa cà. Thời nầy chắc không còn đâu mình! Thôi đi!
Xuống bậc thềm, Thám hoa nắm tay phu nhân dìu xuống. Phu nhân cẩn thận từng bước một. Đâu đó nghe giọng nói nho nhỏ:
- Cái bà điệu dễ sợ!
 
CAO THÁM HOA
(Thành viên Wikipedia)
* Đại Việt thời Minh Mạng

  Trở lại chuyên mục của : Kha Tiệm Ly