MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH


Người Cư Sĩ Ưu Việt

Lời thưa,

Thời Phật tại thế - có những cư sĩ có tuệ ưu việt, có tâm vô biên, có những hành động phi thường mà đầu óc chật hẹp của thế gian không thể suy lường nổi.

Có cư sĩ đã lót vàng mua đất để xây dựng đại tịnh xá cúng dường cho đức Phật và tăng chúng mười phương. Cũng vị cư sĩ nầy, khi gia tài đã khánh tận vì lo cho Tam Bảo, đến nỗi chỉ còn cháo tấm và bột chua, ông vẫn hoan hỷ cúng dường, không phải với tâm thô xấu mà với tâm chói sáng dịu dàng như mạ vàng ròng!

Có người cư sĩ bỏ quên chiếc áo khoác trị giá hằng triệu đồng tiền vàng ở trong chùa, sau đó tự bỏ tiền ra mua lại, lấy tiền ấy để kiến tạo một tu viện nguy nga.

Có người cư sĩ nghe pháp, an trú pháp đến nỗi gia nhân đến báo là kẻ cướp đã vào lấy hết gia sản, của cải - ông tỉnh bơ nói rằng: Nếu tài sản, tư hữu ấy là của ta, là phước báu của ta thì không ai có thể lấy được - bằng không phải như vậy thì cứ để tự nhiên cho bọn cướp lấy đi!

Có người cư sĩ tự cắt miếng thịt đùi của mình, nấu cháo cứu sống một vị tỳ-khưu.

Có vị cư sĩ có trí biện luận làm cho một vị giáo chủ không có đường đón đỡ, tức phải thổ huyết nóng.

Có những cư sĩ đắc các tầng thánh, có thắng trí, có tài biện luận vô ngại...

Ôi! Còn nhiều nữa, kể sao cho xiết hành trạng của những cư sĩ có tuệ bất động, có tâm bất động, có tín bất động, có thí bất động... vào thuở bình minh của giáo pháp. Còn thời này thì sao, thời của hoàng hôn, thời của suy tàn, thời của cành, nhánh, ngọn của giáo pháp - các hàng cư sĩ của chúng ta ra sao?

Thời này ư? Thời này cũng còn chứ, rất nhiều là khác nữa!

Ngài trụ trì chùa Bửu Long khi khởi công kiến tạo Bảo Tháp Gotama, chẳng có một đồng xu dính túi - nhưng bây giờ đã tiêu tốn cho công trình hằng chục tỷ rồi. Có cư sĩ đã bán đất để cúng dường. Có cư sĩ bán nhà to, chỉ mua nhà nhỏ ở - để có tiền mà cúng dường. Họ cúng dường từng tỷ bạc. Nhiều người như thế. Có cư sĩ thì, bao nhiêu tiền để dành trong sổ tiết kiệm, mang đi cúng hết, nói rằng, để Tam Bảo giữ gìn cho, chắc chắn và vững bền hơn! Có người lại lặng lẽ, âm thầm hứa cúng dường một lần trên chục tỷ để hoàn thiện bảo tháp... Thế thì cái tâm tín đạo của cư sĩ thời này có thua gì thời Phật tại thế đâu!

Có lần, tôi được nói chuyện với một doanh gia, ông ta bảo: Ngài biết không, bổn phận của con là phải làm ra tiền - còn bổn phận của vợ con là lấy tiền ấy cúng dường Tam Bảo. Mỗi người một việc riêng! Sau đó tôi còn được biết, mỗi năm, hai ông bà đã dành ra mười tỷ cho phước sự ấy; tuy nhiên có năm, ngân khoản cúng dường đã vượt quá chỉ tiêu ấy đến năm, bảy tỷ!

Có người cư sĩ trải qua cuộc đời chìm nổi, lãng tử phong trần - từ khi biết đạo thì luôn hào sảng cúng dường, rất là mau mắn, rất chi là nhẹ nhàng, nhẹ như mảnh lông hồng...

Và còn nhiều nữa, nhiều nữa, nhưng do tôi không biết đấy thôi!

Vậy thì rõ ràng, giáo pháp đang còn tồn tại. Nó tồn tại ở nơi tuệ, nơi tâm, nhất là nơi thí của hàng cư sĩ tại gia.

Và trong số cư sĩ tại gia ưu việt thời nay ấy, tôi muốn nhắc đến một người đặc biệt, chỉ cách đây hơn nửa thế kỷ thôi, đó là cư sĩ Lê Văn Giảng, thế danh của ngài Hộ Tông, cố Đại Sư khai sáng và có công đức hàng đầu đối với sự có mặt cũng như phát triển của Phật giáo Theravāda tại Việt Nam. Vị cư sĩ nầy có thể được coi là ưu việt nhiều phương diện: Tự mình thấy rõ sự khổ. Tự mình lần dò con đường. Tinh cần, công phu, khổ hạnh tu tập. Xả ly, nhẫn nại, bố thí, cần cầu học hỏi, giảng pháp, dạy đạo, biết cách hướng dẫn người khác tu học. Có trí, có tín, có giới, có đức và có cả công phu mật hạnh nhưng vẫn khiêm tốn, nhún nhường, vắng lặng, thanh tịnh...

Ôi! Tấm gương vằng vặc nơi cuộc đời cư sĩ của ngài cần phải được kể lại đầy đủ để soi chiếu cho hàng hậu học hiện tại và tương lai.

Tôi sinh sau đẻ muộn, thuộc hàng tu sĩ cháu con, có biết gì về thời ngài còn là cư sĩ những năm 40 của thế kỷ trước? Tuy nhiên có một duyên may nho nhỏ là trong đống sách báo, tài liệu cũ, tình cờ thấy được 02 bổn Photo về tiểu sử của ngài, mỗi bổn dài ngắn khác nhau mà bổn nào cũng không còn nguyên vẹn, thiếu mất trang này hoặc trang khác. Tuy nhiên, lạy Cố Giác Linh ngài, tôi vẫn phanh tìm ra được sự liền lạc và sự diễn tiến các sự kiện mà không bỏ mất, bỏ sót một tình huống, một chi tiết nào!

Bản cũ chỉ có 22 trang, bản mới tôi viết lại hơn 100 trang; nhưng xin ai đó đừng bảo tôi thêm thắt, hư cấu. Không phải thế. Tôi đã viết bằng trực cảm tâm linh. Từng trang một, từng trang một, hình ảnh đời ngài cứ tuần tự hiện ra - tôi nhìn, tôi nghe, tôi cảm và tôi viết. Tôi viết say mê như lên cơn sốt, như lên đồng. Tôi viết với sự hỷ lạc chưa từng có, mà tôi cảm giác không cần ăn, không cần uống - suốt 8 ngày như thế, mỗi ngày bình quân 8 tiếng.

Nghĩ mình không có cái gì để cúng dường đến Bảo Tháp Gotama; không có gì để cúng dường trong ngày trọng đại tưởng niệm kỵ giỗ ngài cũng thấy tủi thẹn trong lòng. Tuy nhiên, nghĩ lại, thấy mình còn có nhịp đập của trái tim, còn có sự run rẩy cảm xúc của những tế bào não, hãy viết lại cuộc đời của một con người - của một cư sĩ - có nhân cách lớn, có cái tâm lớn, có cái trí lớn thì nó cũng đẹp làm sao, cũng tuyệt vời làm sao! Cuộc đời ấy như lồng lộng dát vàng trăng nước sử thi, như bàng bạc khói mây non cao hạo tráng... mà thế gian này sợ rằng không còn nữa! Và đây, chỉ xin như là một nén hương, một thỏi trầm để tưởng niệm - còn ngát ngào và thấm đẫm tinh khôi đạo vị và pháp vị của giọt nước trong tự suối nguồn nguyên thủy!

Cuối cùng, tôi còn nghe được tiếng chim trên đỉnh trời Linh Thứu (Gijjkakūṭa) vọng xuống giữa tâm thức nhân gian đang nhiều tối tăm, ngật ngầy cát bụi lầm than và khổ nạn nầy!

Viết tại Am Mây Tía
MĐTTA

  Trở lại chuyên mục của : M.ĐTriều Tâm Ảnh