PHAN ANH

 
HỘI AN - MỘT NỐT TRẦM XAO XUYẾN


(Ảnh tác giả trong Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh Hội An)
                       
Ba lần về Đà Nẵng là ba lần tôi đều dành thời gian để tranh thủ ghé thăm Hội An. Và, sau những cuộc hội ngộ với vùng đất từng là thương cảng nổi tiếng năm xưa như thế tôi có cảm giác giống như một người thợ kim hoàn đang tự gom nhặt từng mảnh ghép thời gian để hoàn thiện cho mình bức tranh về một đô thị cổ từng có một thời vàng son rực rỡ. Bây giờ chiêm nghiệm lại từng khoảnh khắc được sống trong những lát cắt của không gian và thời gian ấy, tôi thấy hình như mình đã chạm được một chân vào dòng chảy của lịch sử, hoà được mình vào trong các khu phố từng được mang danh là “nơi con phố kể chuyện, mỗi bước chân là ký ức”. Cũng bởi vậy mà tôi đã có dịp được tận mắt nhìn thấy từng lớp áo thời gian phủ trên miền đất từng vang bóng một thời trong những đổi thay không phải chỉ qua sự chuyển dịch của các sắc màu ánh sáng mà còn là nhịp thở, tiếng đập của thời gian đang hiển hiện sinh động trên từng thớ gạch của miền đất di sản sâu lắng này. Quả thực phải đi qua những cung bậc của thời gian và cảm xúc ấy, tôi mới hiểu được vì sao nhiều người lại nặng lòng với mảnh đất mến yêu này đến vậy.
 
Nhớ lại, lần đầu tiên giáp mặt với Hội An, khoảng hơn chục năm trước, hồi ấy, trên đường đi thánh địa Mỹ Sơn tôi rẽ vào thăm thương phố trong một buổi sớm đầu thu. Tôi ấn tượng mãi về Hội An trong lần đầu gặp gỡ. Khi đó phố cổ bên sông đón tôi bằng những tia nắng mềm mại, vàng ươm, nhè nhẹ đổ tràn từ trên những mái nhà lợp ngói âm dương, những bức tường màu vàng loang lổ rêu phong, những giàn hoa giấy rực rỡ sắc màu xuống dưới những vỉa hè đá xám cùng những con đường phơi màu năm tháng trong thoang thoảng hương trầm thanh khiết đang toả ra từ những ngôi đền và các nhà hàng trên khắp các tuyến đường đi bộ. Phải nói rằng, hôm đó không gian buổi sớm ở phố Hội thật tĩnh lặng nguyên sơ, mọi thứ ở đây đều rất nhẹ nhàng. Dạo bước trên những con đường mà hai bên san sát những ngôi nhà hình ống cổ kính và được mở ra bởi những gian hàng lưu niệm hay những tiệm cà phê mà tôi có cảm giác nhịp sống hiện đại nơi này còn chưa kịp thức giấc. 
Cái nắng sớm thu ở Hội An thật đẹp. Nó mỏng tang và rất dịu dàng, giống như một lớp kem đang thoa lên mọi bề mặt để đánh bóng và tôn thêm cái vẻ trầm mặc của hàng trăm ngôi nhà cùng những con đường nhỏ hẹp quanh co. Bước trên từng góc phố còn khá vắng vẻ ấy, tôi có cảm giác mình như là người duy nhất được chứng kiến cái khoảnh khắc phố cổ còn đang ngái ngủ mà đã phải rũ bỏ màn đêm để thức dậy cùng ánh bình minh ngày mới. Quả thật, đến đây và lúc này tôi mới thực sự thấu hiểu tại sao Hội An không phải là nơi dành cho những bước chân vội vã. Và tôi cũng đã nhận ra thời gian buổi sớm ở Hội An như đang ngưng đọng, lắng lại giữa những bức tường cổ kính nằm san sát bên nhau và nép mình bên dòng sông Hoài êm ái, dịu hiền.
 
Trong lần đến Hội An này tôi dành nhiều thời gian để thăm chùa Cầu, Hội quán Phúc Kiến (thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu – tương truyền bà sống ở Phúc Kiến, vào khoảng thế kỷ thứ X, ngay từ nhỏ bà đã tinh thông thiên văn, thuỷ tính và có khả năng dự báo thời tiết chính xác để giúp người đi biển tránh được hoạn nạn, sau khi hiển thánh bà thường cứu giúp ngư dân khi đi trên biển và được người Hoa coi là vị thần phù hộ ngư dân), Hội quán Quảng Đông (thờ Quan Công - nhân vật trong tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung; một biểu tượng tuyệt đối của nhân - nghĩa - trí - dũng, ông được coi là bùa hộ mệnh, một vị thần tài, tương truyền người ta thờ ông là để tăng dương khí, xua đuổi tà ma, giúp cho hòa khí trong nhà lúc nào cũng được trong ấm ngoài êm), Hội quán Triều Châu (thờ Phục Ba Tướng Quân - trong tâm thức người Hoa ông là vị thần linh thiêng, có công trị thủy, chế ngự sóng gió trên đại dương đem lại bình an cho người đi biển) … và đặc biệt là chùa Cầu - một cây cầu nổi tiếng của phố Hội. Với nhiều người, kể cả với tôi, dù chưa đặt chân đến Hội An cũng đã từng biết cây cầu này bởi hình ảnh của nó được in trên mặt sau của tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng (phát hành năm 2006) của Việt Nam với dáng hình uốn cong, mái nhà lợp ngói âm dương rất đẹp. Tuy vậy, dù nhìn quen đến mấy nhưng khi đứng trước dáng hình thực tại của cây cầu tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng trước một khoảng không gian kiến trúc xinh xắn và rất duyên dáng này. Chùa Cầu ấy vừa là nơi đáp ứng nhu cầu giao thông, phát triển giao thương vừa là chốn phục vụ các nhu cầu tín ngưỡng của đông đảo nhân dân. Công trình kiến trúc ấy rất đẹp và mang đậm nét giao thoa văn hoá của người Nhật, người Hoa với người bản địa. Nó nằm vắt qua con rạch nhỏ dẫn nước ra sông Hoài, lặng lẽ nối liền hai con phố Trần Phú và Nguyễn Thị Minh Khai.
 
Bốn thế kỷ dâu bể trôi qua, cây cầu đã cùng phố Hội hẳn cũng đã nếm trải biết bao thăng trầm, vậy mà dấu ấn của người Phù Tang và người Minh Hương thuở trước dường như vẫn còn vẹn nguyên trong từng dáng nét. Trước mắt tôi vẫn còn đó nguyên vẹn những phiến đá được kê làm cột trụ đỡ cho thân cầu vững chắc, cặp linh vật (chó đá và khỉ đá) ngày xưa vẫn nghiêm trang canh giữ ở hai nơi đầu cầu. Những ván gỗ lát sàn đen bóng in màu năm tháng vẫn lặng lẽ nằm im dưới mái ngói âm dương trầm mặc. Tất cả, dường như vẫn cứ đang dừng lại ở một miền xa xăm nào đó chứ không phải là của ngày hôm nay.
 
Cây cầu vẫn nằm đó với chiều dài khá khiêm tốn, khoảng chừng gần hai mươi mét. Tuy chiều kích cây cầu không đồ sộ nhưng nó lại ẩn chứa trong mình những lớp trầm tích dày đặc. Ngắm nhìn cây cầu, trí tưởng tượng của tôi lại xuyên không về khoảng hơn bốn trăm năm trước, thời chúa Nguyễn mở lòng cho phép các thương nhân người Nhật Bản xây dựng cây cầu để mở rộng giao thương và trấn yểm thuỷ quái Namazu. Tôi từng biết, trong tâm thức người Nhật, con quái vật Namazu ấy có đầu nằm ở nước Nhật, đuôi ở Ấn Độ, nhưng chiếc lưng lại vắt qua chính khe nước Hội An này. Do vậy mỗi lần nó cựa mình là một lần trần thế nơi đây không tránh khỏi những tai ương, động đất hay bão lũ ngập lụt. Có lẽ vì thế mà người Nhật đến đây đã thiết kế một cây cầu bắc qua con rạch, trông như một thanh kiếm cắm xuống lưng con quái vật, nhằm trấn áp nó hòng đem bình an cho mặt đất ở dưới chân mình. Cũng với tấm lòng rộng mở ấy, vài mươi năm sau, khi người Hoa đến đây lập nghiệp, chúa Nguyễn lại ưng thuận cho họ dựng thêm ngôi chùa nhỏ, ở bên sườn cầu và rước Bắc Đế Trấn Võ về đây thờ phụng. Trong tín ngưỡng của người Minh Hương, Bắc Đế Trấn Võ là vị thần trị thuỷ, trừ tà đem lại may mắn, thịnh vượng. Có lẽ nhờ những niềm tin tâm linh ấy mà những bước chân viễn xứ đã can đảm đối mặt với gió bão miền Trung, neo giữ lại nơi này những khát vọng về một cuộc sống an hòa, thịnh vượng. Sử sách còn ghi, hồi đầu năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu đã đến Hội An và dừng chân ở chùa Cầu. Rung cảm trước khát vọng và mơ ước của những người bạn phương xa, nhà chúa đã ban cho ba chữ Lai Viễn Kiều để đặt lại tên cho cây cầu, tức là cầu của khách phương xa. Đứng dưới mái hiên rêu phong, ngắm nhìn cây cầu, tôi bỗng nhận ra, Lai Viễn Kiều không chỉ đơn giản là những phiến đá, hòn gạch hay cây gỗ để nối đôi bờ rạch nhỏ. Cây cầu và ngôi chùa đứng đó, theo mưa nắng của thời gian, giờ đây nó đã trở thành một chứng nhân lịch sử cho một thời kỳ mở cửa vô cùng khoáng đạt của ông cha ta thuở trước. Đồng thời nó cũng là một minh chứng rõ ràng cho mối quan hệ, gặp gỡ và hoà quyện, của ba dòng chảy văn hoá Việt Nam – Nhật Bản – Trung Hoa trên đất Hội An. Và trên tất cả, từng viên gạch hay thớ gỗ đan cài vào nhau kia đã cùng nhau dệt nên cái hồn cốt linh thiêng, thắp sáng ký ức về một thương cảng “Faifo” từng có một thời huy hoàng rực rỡ trên dải đất miền Trung.
 
Lần thứ hai tôi trở lại Hội An là một buổi chiều đông dào dạt gió biển từ cửa Đại thổi về. Nhưng cơn gió ấy len lỏi trên lòng phố nhỏ làm xôn xao những gian hàng lưu niệm, khiến cho muôn cánh hoa màu trắng, màu hồng trên các giàn hoa giấy thi nhau nhảy múa tưng bừng, nổi bật trên những bức tường màu vàng dọc hai bên bờ sông. Về chiều “Hoài Phố” không còn tĩnh mịch mà đông vui hơn buổi sáng. Nhìn dòng người đi lại nhộn nhịp trên các ngả đường tôi lại mơ màng về cái thời huy hoàng của một cảng thị năm xưa. Nghĩ thế mà lại luyến tiếc. Nhưng biết làm sao được, “sông kia rày đã lên đồng”, biển Cửa Đại và dòng Thu Bồn đã bị phù sa bồi lắng cho nên thương cảng tấp nập tàu buôn năm xưa giờ chỉ còn trong ký ức và những câu chuyện kể.
 
Mùa đông ở Hội An không rét buốt như ngoài Bắc, gió chỉ như giao mùa, trời se se lạnh. Nhưng mùa đông ở Hội An lại mưa nhiều hơn ở ngoài Bắc. Đặc biệt, ở Hội An, sau những ngày mưa lê thê ấy, các bờ tường, hẻm ngõ phố cổ ở nơi này lại phủ đầy rêu biếc. Màu xanh của rêu hoà cùng màu vàng đặc trưng của phố Hội như khoác tấm áo mới đầy mơ mộng cho không gian nơi đây. Bức tranh phố cổ lúc này hiện lên với một vẻ đẹp sâu lắng, chất chứa cảm xúc; trầm mặc và hoài niệm đến nao lòng. Và trong lần trở về này tôi lặng lẽ đi vào những con ngõ nhỏ, không phải chỉ để ngắm nhìn rêu phủ trên các bức tường hay những khuôn cửa cũ kỹ cùng mái nhà cổ kính mà còn tìm đến với những dấu tích của một thuở xa xưa. Đó là một chiếc giếng nhỏ của vương quốc “điêu tàn” trên cửa biển thuở xưa và nơi cất giữ ký ức của một Sa Huỳnh xa lắc, còn mong manh sót lại.  
 
Tôi đi tìm giếng Bá Lễ, một giếng cổ của người Chăm có tuổi đời trên một ngàn năm, từng có thời gian rất nổi tiếng trên truyền thông quốc tế bởi nguồn nước ngọt mát và câu chuyện của những người mưu sinh bằng nghề gánh nước giếng này đem bán. Thời ấy, người ta coi giếng này như là mạch ngầm của phố cổ, một đặc sản phi vật thể độc đáo của Hội An. Giếng này nằm trong ngõ sâu, đường vào ngoắt ngoéo nhưng hỏi mãi tôi cũng đã tìm đến được. Chiếc giếng rộng chừng gần một mét vuông, sâu khoảng chục mét, nhìn xuống thấy nước trong vắt nhưng bốn bề vắng ngắt, không có người xem và cũng không còn ai đến gánh nước như truyền thông có thời từng rầm rộ đưa tin. Giếng cổ có hình vuông, dưới đáy giếng có phiến gỗ lim, từ chân giếng lên đến miệng giếng, người ta xếp gạch (nghe kể là gạch Chăm), không dùng vôi vữa để kết dính. Giếng này cũng đã được trùng tu cách đây hơn một trăm năm. Nghe nói người trùng tu giếng có tên là Bá Lễ nên người ta dùng luôn tên người sửa để đặt tên cho giếng. Người ta kể rằng, khi xưa nước giếng rất trong, không bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, thường được dùng để làm bánh bao, cao lâu, bánh vạc, mì Quảng … nhưng từ ngày có nước máy thì nước giếng Bá Lễ dần bị thất sủng. Thời vàng kim của giếng Bá Lễ cũng như thời huy hoàng của thương cảng Hội An, nay đã lùi sâu vào trong dĩ vãng. Giờ đây sự tồn tại của những di tích này chỉ có ý nghĩa là những di sản để hoài niệm. Nhưng đứng trước chiếc giếng nhỏ bé này, tôi không khỏi thán phục trí tuệ phi thường của người Chăm xưa trong việc tìm mạch nước cho đến kỹ thuật làm giếng. Để rồi sau hơn một nghìn năm chiếc giếng chẳng có gì thay đổi, giá trị vẫn như thưở ban đầu. Tiếc rằng, giữa dòng chảy của cuộc sống hiện đại ngày nay người ta đã vô tình quên dần những giá trị nghìn năm, để rồi đẩy nó vào góc khuất của sự lãng quên. Giếng Bá Lễ vẫn còn đó, nước vẫn trong nhưng những tiếng gàu va vào thành giếng, tiếng kẽo kẹt của đòn gánh tre đưa nước đến nhà hàng đang dần gửi lại cho quá khứ. Biết làm sao?
 
Trước khi trở thành thương cảng nổi tiếng vùng đất cửa biển miền Trung này từng là nơi hội tụ của nền văn hoá Sa Huỳnh cho nên đến với Hội An lần này tôi không thể không đi tìm những dấu tích của nền văn minh cách nay khoảng 3000 năm tuổi. Nơi tôi đến chính là ngôi nhà 149 đường Trần Phú - Bảo tàng văn hoá Sa Huỳnh Hội An. Đến thăm bảo tàng này tôi lại chợt nghĩ về những giá trị của những đồ vật được trưng bày trong ngôi nhà. Giá trị ở đây không phải những thứ có thể quy đổi thành tiền bạc mà ở tầm vóc văn hoá của những hiện vật biết nói. Nhìn bề ngoài, tôi thấy Bảo tàng Văn hoá Sa Huỳnh Hội An cũng như bao ngôi nhà khác nằm trên con phố Trần Phú, đều kiến trúc theo lối nhà ống cổ đặc trưng của thương cảng “Faifo”. Tuy gọi là bảo tàng nhưng không gian Văn hoá Sa Huỳnh này khá khiêm tốn. Không gian khiêm tốn nhưng tầm vóc của hiện vật lại không hề khiêm tốn. Hơn 1000 hiện vật; từ những chiếc chum hình trụ, hình trứng dùng đựng hài cốt cho đến các dụng cụ sinh hoạt như nồi, niêu, bát đĩa, ấm nước…; từ các công cụ sản xuất như cuốc, dao, liềm…đến những đồ trang sức như khuyên tai ba mấu, khuyên tai vành khăn, chuỗi hạt, đá mã não … đã cho tôi thấy bức tranh phong phú, sống động về đời sống, quan niệm, phong tục, tập quán của người cổ xưa trên miền đất này. Đắm chìm trong khối cổ vật tôi không chỉ nhìn thấy dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm trước trên dải đất miền Trung nắng gió mà còn không khỏi thán phục trước những khối óc sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo, tài hoa của những người cổ đại.
 
Dạo trên phố cổ chiều hôm tôi thấy ấn tượng về kiến trúc nhà cửa ở phố cổ Hội An. Có thể nói, đi dạo trên phố Hội tôi như được hoà mình vào một bảo tàng sống ở ngoài trời. Những ngôi nhà ở đây đều có chung một mô - tip, rất đặc trưng, khó lẫn vào nơi khác được. Đó là những nếp nhà có chiều ngang hẹp, chiều dọc sâu; được lợp bằng ngói âm dương, mái ngói lợp đan xen tạo hình lượn sóng nhìn rất mềm mại; không gian chia thành nhiều gian, theo kiểu kiến trúc nhà - sân – nhà. Nhìn những công trình như thế người ta dễ dàng nhìn thấy sự giao thoa, pha trộn của các loại hình kiến trúc Việt Nam – Nhật Bản – Trung Hoa. Có lẽ kiến trúc nhà cửa này là dấu ấn đặc sắc của phố Hội. Nó cho thấy sự phồn thịnh của thương cảng một thời. Nhưng ở mặt khác tôi lại nhận ra sự trân trọng và quyết tâm gìn giữ những giá trị di sản thương cảng phố Hội của con người nơi đây. Có lẽ, chẳng có nơi nào nhà cửa dù cổ xưa hay mới xây dựng thì đều chung nhau một phong cách. Cả trăm nóc nhà đều hao hao giống nhau như một. Điểm này phố cổ Hội An hơn hẳn nhiều nơi khác, giữ được sự nguyên vẹn và đồng bộ hơn. Phố cổ ở Hội An không có nhà cao chọc trời; nhà cửa không lộn xộn chắp vá, cơi nới; cùng chung một gam màu (sắc vàng). Hội An như thế bảo sao không níu chân du khách; bảo sao không làm mê hoặc du khách. Cho nên, đến Hội An, tôi càng thấu hiểu vì sao nơi đây liên tục được các tạp chí và tổ chức du lịch quốc tế bình chọn là thành phố nằm trong top đẹp nhất thế giới; điểm đến tuyệt vời nhất ở châu Á. 
 
Lần thứ ba tôi trở lại Hội An là đến với sông Hoài trong đêm hội hoa đăng, thường được tổ chức vào những tối ngày rằm, ngày mùng một hàng tháng và tối thứ bảy hàng tuần. Phố Hội là một trong những thủ phủ của đèn lồng. Đêm đến, tất các tuyến phố đều lộng lẫy sắc màu bởi ánh điện hắt ra từ hàng nghìn hàng vạn chiếc đèn lồng. Tuy thế, vào những đêm hoa đăng, sông Hoài lại càng lung linh hơn khi được đón nhận hàng nghìn ánh nến soi bóng xuống dòng sông xanh biếc. Ngắm nhìn những đoá hoa đăng trôi lững lờ và các khu phố ngập trong sắc đèn huyền ảo khiến tôi như đang đắm chìm vào một giấc mộng đêm hè.
 
Ba lần đến Hội An, tôi thấy nơi đây vui nhất có lẽ là ban đêm. Khi màn đêm buông xuống, người muôn nơi đổ về. Trên các tuyến phố, ánh đèn điện bị chìm khuất bởi những sắc màu hắt ra từ những đèn lồng treo trên các khung cửa gỗ. Điều kỳ lạ, người người nô nức kéo nhau về tập trung vui chơi trên các tuyến phố, trong chợ đêm, ở nhà hàng … nhưng người ta không có cảm giác xô bồ. Trên phố cổ Hội An mọi thứ chuyển động rất nhẹ nhàng và hoạt động sẽ dừng lại ở lúc mười một giờ đêm một cách rất tự giác. Trước khi xuống thuyền thả hoa đăng trên sông Hoài tôi có ghé qua chợ đêm phố Hội. Ở phố cổ Hội An có rất nhiều chợ đêm. Dường như mỗi tuyến đường là một khu chợ. Tôi dạo vào hai chợ chính. Bắt đầu là chợ Nguyễn Hoàng, trên trục đường Nguyễn Hoàng, đối diện với chùa Cầu. Chiều dài của chợ khoảng năm trăm mét nhưng nơi ấy là thiên đường của đèn lồng và các món đồ lưu niệm, từ gốm sứ đến túi vải, quần áo, nón mũ, cho đến các thứ đồ trang sức, đồ chơi như vòng tay, tò he, tượng đồng, đồ điêu khắc, con giống … Tôi thấy người nước ngoài rất thích mua hàng ở đây. Với họ tôi có cảm giác mỗi món quà ở Hội An mang về không chỉ là món đồ chơi mà hơn thế, đó là kỷ niệm của một Hội An. Và, kỷ niệm ấy giống như một sự đánh dấu về sự xuất hiện của mình ở nơi này. Rồi từ chợ đêm Nguyễn Hoàng tôi di chuyển sang chợ Công Nữ Ngọc Hoa, nằm trên tuyến phố cùng tên, bên sông Hoài. Chợ đêm này là thiên đường ẩm thực. Tôi nhìn thấy ở đây, từ các gian hàng lớn cho đến những gánh hàng rong, bày bán rất nhiều đặc sản của Hội An. Đó là những món ăn dân dã nhưng mang đậm dấu ấn ẩm thực xứ Quảng: đậm đà, ít nước, giàu hương vị, nhiều rau sống, chuộng ớt cay. Món Cao lầu, sợi mì vàng đục, được làm từ gạo ngâm với tro củi ở Cù Lao Tràm, ăn kèm thịt xá xíu đậm vị, da heo chiên giòn, rau sống Trà Quế và một chút nước xốt đậm đà. Món Bánh đập hến xào là sự kết hợp giữa bánh tráng nướng giòn và bánh ướt mềm dẻo, đập nhẹ lại rồi chấm với mắm nêm, ăn cùng đĩa hến sông Thu Bồn xào thơm lừng mùi hành tỏi. Món Món Mì Quảng, sợi dày màu trắng hoặc vàng tươi, kết hợp cùng nhân tôm, thịt heo hoặc gà, chan nước dùng sền sệt, ăn kèm bánh tráng nướng giòn rụm và rau búp chuối thái mỏng. Thịt xiên nướng tương đậu là những xiên thịt lợn nướng cháy xém cạnh trên bếp than, cuốn bánh tráng mỏng, rau sống và chấm vào loại xốt tương đậu phộng, vừa bùi vừa béo. Chè bắp Cẩm Nam là món tráng miệng trứ danh được nấu từ những bắp ngô non ở cồn đất Cẩm Nam ven sông Hoài, món chè này rất thanh mát. Đến chợ đêm ở Hội An ta sẽ biết thế nào là thiên đường ẩm thực xứ Quảng. Và khi lạc bước vào phiên chợ này, tôi đã nhìn thấy, mọi người khi đến Hội An, khó có ai lại có thể cưỡng được thiên đường này.
Nhưng sống động nhất có lẽ chèo thuyền thả hoa đăng trên sông Hoài. Đêm hội hoa đăng trên sông Hoài lung linh, tôi nhìn thấy khách xếp hàng dài để chờ lên thuyền. Những chiếc thuyền nhỏ bé xinh xinh để rất nhiều hoa đăng nhìn giống như những bông hoa sen với đủ các sắc màu hồng, xanh, đỏ, tím, vàng … ở giữa mỗi bông hoa có một cây nến nhỏ. Ban đầu, khi màn đêm buông xuống, dòng nước xanh biếc của sông Hoài như một thảm nhung lấp lánh muôn ánh đèn lồng. Nhưng khi hàng trăm chiếc thuyền chở khách ra sông, hàng nghìn chiếc đèn được thắp sáng bởi những ngọn nến rồi nhẹ nhàng thả xuống mặt nước. Dòng sông trở nên huyền ảo khác thường. Mỗi ngọn hoa lửa trên mặt nước sông Hoài lung linh tựa như một vì sao sáng. Dòng sông hiện lên như một bầu trời rực rỡ với muôn vì sao. Bác lái thuyền se sẽ khua chèo, rẽ lối giữa muôn vì sao đưa tôi ra giữa dòng sông lấp lánh làm xao động cả mặt nước. Ngồi trên thuyền nhỏ bơi trên sông Hoài tôi nghe đâu đó giai điệu bài chòi vọng lại lúc khoan lúc nhặt, khi trầm khi bổng mà hoài niệm, da diết. Trong cái thanh âm và sắc màu phố hội như thế tôi thấy Hội An lắng đọng như một bài thơ. Gió mát từ cửa biển thổi về, lướt trên mặt sông, xua tan đi cái nóng của mùa hè, để lại một không gian thoáng đãng, yên bình với một vẻ đẹp mãn nhãn. Hội An quả không chỉ là một điểm đến mà còn là cả một miền di sản chất chứa những hoà niệm; vừa đằm thắm vừa dịu dàng, tựa như một khúc tình ca và ngân vang mãi trong lòng những ai đã từng ghé qua, dù chỉ một lần.
 
Mỗi lần ghé qua phố Hội An là một lần tôi hiểu thêm về đất này. Đó là sự kỳ diệu, một nét gạch nối hoàn hảo giữa quá khứ và hiện tại. Trải qua bao thăng trầm thời gian, đi qua cả những lằn ranh sinh tử của chiến tranh và làn sóng đô thị hóa, phố Hội nay vẫn còn như nguyên vẹn để làm một chứng nhân duy nhất giữ lại linh hồn của những thương cảng cổ xưa của nước Việt. Đến với Hội An tôi không khỏi nghĩ đến những thương cảng  Vân Đồn, Phố Hiến, Cửa Hội, Thị Nại, Óc Eo, Cù Lao Phố … Nhưng tất cả đều một đi không trở lại. Những thương cảng ngày xưa nay chỉ còn trong ký ức. Nhìn dòng sông Thu Bồn ngập ánh hoa đăng, lung linh trong ánh đèn lồng hư ảo, tôi chợt hiểu rằng, sự nguyên vẹn của Hội An không chỉ là sự may mắn của số phận mà còn là cái duyên của xứ Quảng. Thương cảng năm xưa nay vẫn còn đây âu đó cũng là một món quà mà lịch sử đã cố tình giữ lại cho hậu thế. Giữa một thế giới đang có biết bao đổi thay, Hội An vẫn như một nốt lặng bình yên. Nhẹ nhàng nhưng sâu lắng. Bởi thế mỗi lần đến với phố Hội tôi không khỏi nhớ về một thời hoàng kim của thương cảng ngày xưa. Và rồi cái thương cảng rêu phong ấy cũng đã khiến cho không ít người phải tìm về như một lối nhỏ bình yên để neo đậu trong tâm hồn.

PA
  Trở lại chuyên mục của : Phan Anh