TỪ SÂM
ANH HỌ TÔI
Ngày 23.7 âm lịch là giỗ anh họ tôi, anh Từ Sỹ Kiệp.
Ngày mai tức ngày 24.7 âm lịch là giỗ bố tôi và cô ruột tôi. Bố và cô ruột tôi mất khi tôi còn nhỏ nên ít kỷ niệm. Anh Kiệp mất khi tôi đã lớn, đã già, đã lập gia đình nên nhiều kỷ niệm. Tạo hóa thương nên cho bố tôi, cô tôi và anh Kiệp mất ngày gần nhau.
Tuổi thì anh Kiệp bậc cha chú vì con đầu của anh lớn tuổi hơn tôi, nhưng “tác” thì tôi gọi bằng anh. Hai anh em cùng ông bà nội.
Mỗi lần về quê, tôi bước vào ngõ đã thấy anh ngồi đợi. Anh nói “nghe tin chú về”. Anh là người sau cùng khi tôi xách va ly ra khỏi cổng. Anh ngồi chơi với anh trai tôi một lúc mới về. Anh nói với anh trai tôi “mấy đứa đi rồi, nhà buồn, ngồi thêm cho có tiếng người”.
Tôi về quê ngủ vùi như trẻ nhỏ trong tiếng dế râm ran sau hè. Gió từ sông Kiến Giang dậy sớm đã thổi. Tỉnh dậy đã 5 giờ sáng, thấy anh ngồi pha trà trầm ngâm ngồi đợi. Anh nói “đêm không ngủ được vô với chú”.
Bố tôi mất, việc nhà việc cửa qua bàn tay anh. Nỗi buồn cũng tràn qua đôi mắt anh. Nắng dội xuống, nước trào lên trong bữa cơm gần chục miệng ăn của gia đình anh thời đói kém.
Sau tảo mộ một ngày, năm 1967, một quả bom trúng nhà o Sìa, cách nhà anh Kiệp chừng hơn mươi thước. Cả xóm thành đám tang lớn. Họ Từ Sỹ đã mất người thân là ông Duông và o Duyến khi o mới 16 tuổi. Tôi nằm mơ o leo lên ngọn tre mà không ai cứu. Duật, đứa em, con đầu của dì ruột tôi là dì Ỉu cũng mất. Con đường đi ra giếng Xóm, nơi mẹ tôi mất năm 1964 bị khoét hố sâu thành khoảng trời màu đen, khói bom khét lẹt.
Lần đầu tiên tôi chứng kiến cảnh “lên đồng” khi mới hơn 10 tuổi. Anh Kiệp và mấy dân quân cầm nhánh cây vừa chạy vừa đập đập vào cây rơm nhà tôi cách hố bom chừng 50 mét. Cành lá đập vào đâu, họ lật lên từng mảnh thịt, mảnh xương lẫn trong rơm rạ, đất cát.
Anh là bưu điện xã. Những năm 1970, khoảng 10 giờ trưa là thư báo về, một tuần một hay hai lần do bưu điện Cổ Hiền đưa xuống. Tôi qua nhà anh đọc báo Nhân Dân, Văn Nghệ, Tiền Phong, các họa báo Trung Quốc, Liên Xô, CHDC Đức,... rất nhiều thư từ gửi từ nam ra bắc, từ bắc vô nam dấu bưu điện chằng chịt, địa chỉ ghi bằng số. Tôi không hiểu vì sao chiến tranh ác liệt như thế mà báo vẫn nhiều, thư vẫn nhiều. Nhờ vậy, chỉ mười mấy tuổi tôi đã biết tin tức trong ngoài nước.
Giáp tết năm Giáp Dần (1974), trước khi rời làng đi học xa, sau bữa cơm trưa, tôi ra thăm lần cuối khoảnh đất rau (đất phần trăm) cách nhà một quãng đồng. Đất nhà tôi và nhà anh liền kề. Anh đang bừa đường bừa cuối cùng. Nhưng không phải trên đất của anh mà trên đất của tôi. Anh nói “mần cho rồi để họ kịp vất má (cấy lúa) để chú yên tâm mà đi”.
Bóng trưa khoanh tròn như chiếc nón cời cong vành. Bèo hoa dâu trên thửa ruộng lốm đốm như những ngôi sao xanh trên bầu trời là thửa ruộng hình vuông. Tôi nói “đã qua chiều rồi, eng nghỉ đi”. Tôi biết sáng nay anh chỉ húp bát cháo loãng rồi đi làm.
Những năm 1990, anh trai tôi qui hoạch và xây khu mộ gia đình, tôi bệnh không về được. Anh ở lại đêm trong bãi “tha ma” Cồn Đồng để trông coi vật tư cạnh người âm.
Lần đầu vắng anh khi đám giỗ của bố tôi lần thứ 50. Anh chọn ngày giỗ chú ruột và cô ruột tức bố tôi và cô tôi (chị ruột bố tôi mất cùng ngày) để ra đi. Ngày thắp nhang cho bố, cho cô cũng là thắp nhang cho anh, ngày 23 và 24 tháng 7 âm lich hàng năm.
Từng giọt mồ hôi của anh tan vào đời tôi thành nước mắt. “Sầu đong càng lắc càng đầy”, anh ra đồng với tiên tổ, có đứa em tóc bạc ngồi khóc thời gian.
Mới đó mà đã qua mấy mùa gió bấc, mấy mùa lũ lụt, đất và người vật vã bên nhau.
Thương nhớ về anh
TS
TS