TỪ SÂM
 
 
ĐI TÌM KÍ ỨC
 
Mình rời trung tâm thành phố, lên ruộng ở, lúc đầu vắng lặng đến sợ ma, vừa lạ vừa buồn như người thành phố về quê. Sau quen dần như người quê không muốn vào thành phố. Mỗi chiều được ngắm nhìn ghe chài lưới trên sông Quán Trường, Nha Trang cách nhà vài chục mét.
Nơi mình ở (cũ) hơn 30 năm từ năm 1986 đến 2018, chỉ cách biển 50m, cách trung tâm Nha Trang vài trăm mét và rời thành phố lên ruộng (trước đây goi là khu Đồng Muối) đến nay. Từ khu tập thể gặp toàn người quen, sau mấy chục năm thấy toàn người lạ.
Hàng trăm, hàng nghìn lần mỗi sáng, người thanh niên dắt xe bước ra khỏi cổng ngôi nhà này nay tóc đã bạc da mồi. Giờ đây đối diện câu hỏi “tìm ai”.
Mình đi tìm kí ức.
Năm 1989, mình đi trên tàu, khi cập cảng ông Đốc ở Cà Mau nàng báo tin “chết rồi anh ạ”, mình nghe có tiếng khóc. Qua mấy tổng đài nên tiếng được tiếng mất. Mình hỏi gắt “ai chết vậy em”. Nàng nói trong nghẹn ngào “cặp heo nhà mình, tài sản vô đó rồi”. Mình về nhà. Nhìn chuồng trống vắng báo hiệu một cục nợ lớn dần lên.
Việc tiết kiệm chi tiêu được triển khai chóng vánh. Từ bếp dầu chuyển sang mùn cưa. Gà vừa gáy nàng đã lục đục dậy nấu cơm.
Mình còn dậy sớm hơn xếp hàng mua cám gà đường Trần Văn Ơn, Nha Trang. Hôm trước nhờ quen thân duyệt được 20 kí. Hơn 40 năm, đứa con đầu lòng may mắn bạn thân cho hộp sữa Meiji (Nhật), là hộp sữa duy nhất đồ ngoại đến nay vẫn dùng nó đựng kim chỉ để kỷ niệm. Ngày đó uống nước cơm thay sữa và thỉnh thoảng có ly chanh đường khi lên cơn sốt là may mắn lắm rồi.
Đêm nào thấy mình đi về khuya, càng khuya là nàng càng mừng. Nàng không ngủ và đợi cùng ăn tối khi sao mai lấp lánh. Những năm 1982 đến 1990 mình “chơi” với các bậc đàn anh nhà báo, nhiếp ảnh gia ở Nha Trang như Thanh Phong, Ngô Mỹ, Hồ Tân, Bá Hưng, Hữu Cứu để chụp ảnh hội nghị, đám cưới đám ma và đêm về làm buồng tối cùng anh Đăng Lâm mới có được tiền xu vào nhà khó. Những ngày lễ tết, người người dạọ chơi. Mình vác máy Practika cũ của Đông Đức và mấy cuốn phim đen trắng đi sửa mặt sửa tóc các cô, các bà và một hai ba “cười lên, cười lên”. Ai không cười cũng cố nhăn răng cho phó nháy bấm. Mười mấy năm, thu nhập cũng hơn nuôi heo gà.
Cuộc sống “đồng ra như nước mở van, đồng vô bị trạm chặn ngang giữa đường”. Sức chàng cao gần 1.7m nặng chưa tới 50 kí cả bì, là “chuyên da” thư thiệt. Mấy đứa nói đùa “Liên Xô qua xét tài trợ không hòan lại thì ngoài Hà Nội họ kêu mi ra, nói là dân tui thiếu ăn dư ri dư ri thì Mỹ hắn cũng động lòng chơ nói chi Liên Xô hè”.
Và, mình đã kiệt sức.
Khi lâm bạo bệnh. Mái tôn cũng đến thời mục nát. Trần cót ép đã chùng xuống như chiếc áo rách lỗ chỗ.
Nhờ một thời chạy nhiều hơn đi, đứng nhiều hơn nằm, ki cóp mua một ít được coi là đồ trong nhà.
Khi mình đội mũ từ bệnh viên về nhà thì đồ đã đội nón ra đi từ trước nên không gặp nhau để chào một câu tiễn biệt. Ngôi nhà chật trở nên trống rỗng. Căn bệnh mà các bệnh viện đều bó tay. Nghĩ, mình đã đến thời bó chiếu khi tuổi mới ngoài 30.
Hướng nhìn duy nhất khi mình nằm bất động là nhìn lên trần nhà. Nghe tiếng chuột đuổi nhau rin rít. Ước mình được...như chuột. Thấy đàn kiến nối đuôi nhau kết hàng. Ước mình được....như kiến. Bầy gián mập ú chạy tung tóe bay là xà chạn gỗ mốc meo. Ước mình được tự do...như gián.
Nắng chiếu qua lỗ thủng thành sợi ngay trước mặt. Tay cầm lấy, nhưng là sợi nắng ảo. Mưa từng giọt rơi trúng đầu lạnh ngắt, đó là giọt mưa thật.
Nàng bảo “anh mong ước gì để em làm”. Mình nói “chỉ mong đứng dậy được để che mái tôn bị mục”. Thức với tiếng côn trùng nỉ non thấy đêm quá dài. Nhìn chuột chạy kiến bò thấy mình bất lực.
Khi ra khỏi nhà, kể cả ở khách sạn mình không ngủ dược. Phần vì lạ, phần vì vắng âm thanh vo ve của muỗi và mùi đất thum thủm ở căn phòng tối tăm ẩm thấp nhưng thân thuộc của mình.
Lần đầu lắp cái la bô bàn cầu có nắp đậy. Người quê vô thành phố nói nhỏ coi là chuyện lạ. Nhớ đoàn quân mười mấy người của bạn từ Nghệ An đi kinh tế mới chờ xe vô Rạch Giá. Nàng hốt hoảng chạy lui chạy tới nói trong hơi thở. Gạo hết chừ mần răng, sổ gạo mua rồi. Có người bà con vô tá túc cơm muối canh rau chờ xe lên Đắc Lắc. Mình quên không nhớ. Khi nào gặp cũng nhắc chuyến đi Nha Trang làm mình cảm động quá.
Lần đầu tiên tiếp khách văn là năm 1987. Đoàn tạp chí Sông Hương vào Nha Trang. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật, nhà văn Nguyến Quang Hà, nhà thơ Vĩnh Nguyên vv...sau khi thăm nhà thơ Quách Tấn (nhà sát chợ Đầm), ông là thi nhân trong “Bàn thành tứ hữu” Qui Nhơn, bạn thơ cùng Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử, Yến Lan. Các thi nhân miền Bến Ngự sau chầu cuốc lủi xoài xanh. Nhà chật không đủ chỗ nằm nên các thi nhân tràn ra biển sõng xoài dưới trăng. Mơ ngủ trong tiếng ru vỏ ốc, tiếng rạt rào còng gió ăn đêm và tiếng sóng mơn đùa khách lạ. Bài thơ “Viết trên vỏ bao thuốc lá” của Hòang Vũ Thuật ra đời từ đó.
Gần đây, trời cho khỏe lại. Nhà nhỏ được lên tầng. Trên tầng ba là căn phòng chuồng chim. Chim không đến ở. Nhưng bạn bè văn chương đậu lại ở đây. Nhà văn Nguyễn Hòa, được tự do trong phòng và tự do dưới bếp, có khi đến hàng tuần. Nhà văn Trương Văn Dân cùng Elena mỗi dịp về Bình Định lại ghé vài ngày. Nhà văn Nguyên Minh, dịch giả Hiếu Tân, các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Viện, Vũ Trọng Quang, Trần Tiến Dũng, Trần Hồ Thúy Hằng, Nam Giao, Khuất Đẩu, Nguyễn Đông Nhật...và nhiều nhà văn nhà thơ khác ở trong nước và hải ngoại đã ghé thăm và tặng sách. Các tác phẩm của họ bình yên trên giá và trăn trở cùng thời thế với chủ nhân ngôi nhà.
Những đứa cháu rời quê vào nằm sấp nằm nghiêng như cá lẹp kiếm việc làm khi tuổi còn niên thiếu và lần lượt lên xe hoa theo chồng.
Ngôi nhà dày thêm kỉ niệm. Như khúc ca lúc trầm lúc bổng. Như cung đàn trong “cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi”. Như khúc tao ngộ trong tiếng đàn cụ Nguyễn Du
“Rằng, hay thì thật là hay
nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào
lựa chi những khúc tiêu dao
cực lòng mình, cũng nao nao lòng người”
Người khách lạ lại hỏi “chú tìm gì, chú có đánh rơi gì không”. Mình trả lời “chú tìm cái không bao giờ trở lại”.
Đó là kí ức thời gian.

TS
  Trở lại chuyên mục của : Từ Sâm