TỪ SÂM
LÀNG NGUYỆT TẢO MỘ
Ngày mồng một và mồng hai tháng bảy âm lịch hàng năm là làng Nguyệt tảo mộ. Các làng khác như Cổ Hiền, Trưòng Dục là 30 tết, có làng vào mùa “thanh minh trong tiết tháng ba”, có làng như Quảng Xá vào dịp “tết độc lập” ngày 1 tháng 9.
Làng Nguyệt xưa cũng vào 30 tết. Mùa gió bấc mưa phùn, mùa đói kém, mùa bước chân lầy lội. Vì vậy, ông cha đã chọn lại ngày 1 và 2 tháng 7. Mùa mưa thuận gió hòa, mùa vu lan, mùa người dương thế gặp hồn cõi âm. Thóc vụ mùa vô rương đã khén. Lúa hè thu đã đòng đòng, đồng ráo bờ khô. Chiền chiện hót cũng thánh thót hơn, tiếng dế cũng rạo rực hơn. Dáng núi trở nên mềm mại và gió Lào cũng dần khép cửa. Đất trời trở mình, lá nhuộm dần sắc đỏ. Những đám mây trắng như vành tang lang thang tìm chốn quê nhà.
Lũ trẻ mải mê với cào cào, châu chấu và nhón chân theo tiếng dế. Thả trâu Cồn De, núp bóng gốc mưng già thôn Hữu Lộc. Trên tay chùm dưới vàng mọng những vì sao ở xóm Tân Thành và ngủ quên trong tiếng cá quẫy mương Lưu, tiếng cuốc kêu từ đập Tân An vọng về.
Nhà thờ họ hoặc nhà từ đường là nơi xuất hành ngày mồng hai. Mới rạng đã ríu rít tiếng gọi nhau. Lũ trẻ cầm con cúi rơm dài sải tay làm mồi lửa. Mấy chục thẻ nhang, mươi xấp vàng mã. Đứa lớn hơn, khỏe hơn vác cuốc, xẻng, thêu. Đứa nhỏ nhất được cầm dao, rựa hoặc liềm cắt cỏ...
Ông tôi khăn đống áo the chỉnh tề như đi hội. Trẻ con được mặc áo đẹp nhất. Mệ tôi răng nhuộm đen tuyền. Mấy o mấy dì áo cánh đang phiên chợ sớm.
Ông tôi là trưởng họ dẫn đầu các thế hệ ra Cồn Đồng nơi thủy tổ họ Từ yên nghỉ. Ông nói “các bậc tiên tổ bao đời khai hoang mở đất hôm ni mới có làng Nguyệt. Các cháu nhớ về cha ông thì con cháu đời sau cũng nhớ về các cháu như vậy”. Hồn người xưa hiện về trong khói hương lảng bảng. Nụ cười mãn nguyện của người chín suối hiện lên. Gió cũng nhẹ hôn vào hạt sương đang chia tay lần cuối với đất trời. Mộ xưa không ghi tên, cỏ ken dày xói lở. Ông tôi vừa giải thích thứ bậc vừa hướng dẫn cắt cỏ, đắp đất thắp nhang. Có những ngôi mộ nằm nép mình cô quạnh.
Thoang thoảng mùi hương ai đã thắp. Tàn nhang cong như câu hỏi, hay sự vái lạy giữa đất trời mênh mông...
Ông nói “ôông ni không có con cái chi cả. Nhưng ở quê, bà con xóm làng thắp nhang phát cỏ. Khi về với tổ tiên họ không muốn nằm lại đất khách quê người là vậy, dưới kia họ cũng ấm lòng”.
Ông chỉ về ngôi mộ khác rồi nói “ôông ni mần việc ở Kinh Thành, khi nằm xuống cũng chọn quê hương làng Nguyệt mà về đó con ạ”.
Đi qua bờ vắng, không còn mộ tộc, mộ của những người tha hương rải rác những nấm mồ nhỏ nhoi như bát úp.
Tôi nhớ về cụ Nguyễn Du,
“Rằng sao trong tiết thanh minh
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà”
Người ở xa quê ngày tảo mộ có thấu chăng sự lạnh lẽo cõi âm như lúc này không. Ông tôi nói “Sốông thì giàu nghèo khác nhau. Chết giống nhau dưới đất. Khi sống mần răng để khi chết được “mồ yên mả đẹp”. Ông tôi giải thích. “Mả đẹp” khác với “mả to” con ạ.”
Đã mấy chục năm tôi mới ngộ ra. Các quan bây giờ thi nhau xây mả to là chính, to để khoe khoang thiên hạ, to để thể hiện giàu có uy phong, có quan khu mộ hàng chục nghìn mét vuông ruộng xôi bờ mật.
Đối với lũ trẻ chúng tôi, bài học ở ngày tảo mộ thật sâu thật quí.
Khi đã xong việc là lúc mặt trời đứng bóng. Con cúi đã tàn, nhang đã hết, người thấm mệt. Các bà, các mẹ đang dọn mâm. Ngoài cúng tổ tiên, còn cúng thiên, cúng địa, cầu cho con cháu sum vầy, hạnh phúc. Cầu cho đất nước thanh bình. Cầu cho mưa thuận gió hòa…
Đó là nét xưa Làng Nguyệt.
Ngày nay, làng quê nhiều thay đổi nhưng nếp xưa vẫn giữ. Mồ mả được qui về nơi cao ráo là Cồn Đồng và Rậm. Ngày mồng 1, họ Từ và họ Nguyễn cúng lễ Thành Hoàng tại miếu Tư. Ngày mồng 2 mọi người đến khu nghĩa trang “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”.
Bia rượu, bánh trái của thời a còng. Vàng mã xe hơi nhà lầu, Iphon, TV, tủ lạnh. Lời cầu nguyện cũng được lưu vào băng đĩa có khi phát bằng tiếng Anh để con cháu hải ngoại nghe và hiểu.
Dù cách có khác xưa, nhưng tình người vẫn thấm từ muôn thuở. Nước giếng Hoang mát lành trong vẳt. Miếu Tư trầm mặc về cõi xa xăm. Tiếng chuông Chùa còn văng vẳng trong ký ức. Ngõ làng như mạch máu nối về nhau làm nên làng quê yêu dấu.
Tôi chỉ ước khi là hạt bui
Đậu xuông phù sa cây lúa quê nhà
(Từ Sâm - Cánh dồng ký ức)