TỪ SÂM

 
NGHỀ “BỊCH BÔNG” LÀNG NGUYỆT
 
Làng Nguyệt những năm 1960 -1970 có một nghề đặc biệt, gọi là đặc biệt vì chỉ có một người làm, đó là nghề đánh “bịch bông”. Người đánh “bịch bông” là bác Riệu, thường gọi là bác Niệu, gọi theo tên con đầu. Niệu (đã mất) cùng tuổi, là bạn cùng lứa trong xóm với tôi (Chuyện làng Nguyệt tui số 142 có bài “Niệu ơi”). Nhà bác cách nương o Lới là nhà tôi, bác là bà con bên nội. Qua nhà bác tôi thường chui nạp nè vì ngày xưa không xây hàng rào bằng gạch như bây giờ.
Trước đây chỉ có hai loại vải là vải bông (làm từ bông) và vải lụa (làm từ lụa tơ tằm). Nhà mệ ngoại tôi nuôi tằm, kéo kén. Tằm như con sâu, nằm trong tổ kén cho vào nồi nước sôi rồi kéo sợi mỏng như tơ nhện màu mật ong. Mệ ngoại không dệt lụa mà bán tơ cho người “buôn” về Đồng Hới. Tằm ăn dâu, lá dâu hái (miễn phí) ở mép vườn giáp “trôổng” các nhà thường trồng làm hàng rào.
Bài này nói về “bịch bông”, vậy, nghề “bịch bông” là nghề gì. Khi thu hoạch, bông có hạt ở trong. “Bịch bông” là dụng cụ làm tơi bông. Tiếp đó dùng “máy” quay tay tách hạt bằng con lăn hai chiều ngược nhau, công đoạn cuối mới kéo sợi, dệt vải.
 
Khu vườn (gọi là nương) của mệ ngoại trồng một vụ bông một vụ lúa. Bông trồng vụ xuân hè, lúa vụ hè thu. Trái bông đầu xuân chúm chím như trái cau non, giòn và ngọt. Bọn trẻ thường hái trộm trái bông là vậy. Khi bị phát hiện chúng tôi thường nằm sát đất, lẫn vào nương bông, đầu chúc xuống, đít “ngỗng” lên như đà điểu vùi đầu trong cát. Mệ ngoại tôi biết nhưng “giả vờ” không thấy, nói “cấy chi rứa bay, cấy chi rứa bay”.
“Bịch bông” làm bằng gỗ “huệng”, hoặc “táu” rộng hơn bàn tay, dày khoảng một tấc, dài trên hai thước, có tay cầm, có dây néo hai đầu bằng da trâu như cần kéo đàn “hồ”, đàn “nhị”. Nó được treo lên xà nhà bằng dây mây bện ba tao (múi), chỗ móc ở giữa tạo thế cân bằng. Bác Riệu cầm thanh gỗ có móc, đánh (móc vào dây) “bịch” là nghiêng dây xuống để dây ngậm vào đống bông rồi nghiêng dây lên và đánh “bông” (tức thả móc), bông tơi ra, hạt tung tóe.
Khi bắt đầu “bịch bịch, bông bông” là khi thả luống cày đầu tiên, khi im tiếng là lúc bóng mặt trời mấp mé bên thềm, người và trâu nghỉ ruộng. Vợ của bác, tôi gọi bằng “dì” vì bà con bên ngoại. Khi bông tơi đều là dì kéo sợi, sợi xe vào ống tre. Một tay quay khung, một tay xe chỉ. Tay dì lên xuống như múa.
Khung dệt, phía dưới đạp chân, phía trên hai tay đưa thoi. Kết cấu khung dệt và thao tác đưa thoi các nơi đều cơ bản giống nhau. Hiện nay các vùng “dân tộc” vẫn thường dùng vải dệt tay để bảo tồn bản sắc văn hóa, để thu hút khách du lịch.
Vải thô sau khi dệt xong gọi là vải “to” hoặc vải “xô”. Khổ rộng 60 phân gọi là “khổ 60”. Vải màu trắng, thường dùng làm khăn, áo đám tang, nên gọi bịt khăn “xô”, mặc áo “xô” là vậy. Nếu mặc thường ngày thì nhuộm vải bằng củ (như củ nâu chẳng hạn) hoặc bằng lá (như lá bàng, trấy nổ, hoa dành dành….).
 
Làng Nguyệt không có nghề phụ ngoài nghề nông. Nghề trồng dâu nuôi tằm cũng ít, nghề “bịch bông” chỉ mình bác Riệu. Bác làm nghề khoảng đến năm 1967 là ngưng sau khi bom thả trúng nhà o Ngừ cách nhà bác vài chục mét.
Tuổi thơ tôi, nghe tiếng “bịch bông” là chạy qua nhà bác để nhìn chùm bông trắng như đám mây tung tóe lên trời. Tiếng “bịch, bịch”, “bông, bông” là tiếng đàn gõ nhịp vào không gian im lặng của chiến tranh. Tiếng “bịch” lúc nặng nề, yếu ơt, tiếng “bông” lúc bổng lúc trầm, như tiếng trống lúc thong thả báo yên, lúc dồn dập báo động.
 
Từ khi tôi xa nhà là không gặp bác nữa, bác đã thành người thiên cổ. Thoáng chốc đã hơn 50 năm. Những người con làng Nguyệt thế hệ tôi cũng đã già, nhưng tiếng “bịch bông” một thời trẻ mãi.
  Trở lại chuyên mục của : Từ Sâm