TỪ SÂM

 
THỜI GIAN CÒN ĐƯỢC MẤY DÒNG
 
Tôi học khóa 5 niên khóa 1970-1973, lớp 8 trường bên bến đò Trung Quán (trường Nguyễn Hữu Cảnh ngày nay) sau đó lớp sơ tán về thôn Bình Thôn vì chiến tranh.
Tôi về họp lớp, đón ở “Quảng Bình quan”. Xe dừng, bạn nữ ló ra, “về họp lớp phải không, ui cha, ngó là tau biết liền, mi không thay đổi mấy, chừ mần chi”. Trả lời “tau mần cấy chi hè…nói in ri “tau mần nghề đi đơm, cất rớ, moóc đam” (làm thủy sản). “Rứa mi mần chi”, “tau quét rác, hốt phân” (làm môi trường đô thị). Tôi không nhận ra bạn, nhưng bạn nhận ra tôi, phụ nữ khác quá, đã 50 năm mới gặp lại.
Năm học 1970-1971 tôi học lớp 8 Trường cấp 3 Quảng Ninh (tỉnh Quảng Bình) ở thôn Cổ Hiền, xã Hiền Ninh (cạnh lũy Đào Duy Từ còn gọi là lũy Cổ Hiền). Sau đó, trường sơ tán về thôn Bình Thôn vì chiến tranh.
 
Chúng tôi lội bộ khi nước tràn qua đập, các bạn nữ xách dép đến cổng trường mới xỏ chân như “thầy đề” trong “nghêu sò ốc hến”. Khóa có 4 lớp, tôi học lớp B gồm 2 xã Tân Ninh và An Ninh, có lọt vô bạn Mạnh ở nông trường Lệ Ninh và bạn Hồng xã Hiền Ninh hoặc thỉnh thoảng có bạn nơi khác “ké” vài học kỳ. Trường có sân bóng đá, hết giờ học, đội tuyển trường ở lại dù nắng hay mưa. Cầu thủ chân đất nhưng “có tài” chém đinh chặt sắt, bỏ bóng đá người.
Điểm qua các bạn, tiền đạo Duy Thiết đảo qua đảo lại như “Ba Đẻn” là đại tá công an. Hậu vệ Cũng đá không trúng mặt thì trúng đầu đối phương mà không cần trúng bóng, là bác sĩ quân y. Thủ môn Tự chỉ thua thủ môn Kim đội Hải Phòng chiều cao, nhưng đá cao chân thì hơn hẳn, là viện trưởng quy hoạch. Lớp trưởng Thắng chạy không nổi, ngồi thở là giảng viên đai học tiến sĩ kinh tế. Bạn tên Tình nhưng chưa yêu, là tiến sĩ luật là giảng viên đại hoc. Bạn tên Văn nhưng giỏi toán, học viện quân sự xe “com măng ca” đít vuông đón tận trường, đại tá, hiệu trưởng trường quân đội. Bạn Vinh ca sĩ một bài, thượng tá quân đội, bạn Phan Thiết, thầy chưa đặt câu hỏi đã giơ tay, tiến sĩ lâm nghiệp là giảng viên Đại học. Bạn Bường điểm thấp cũng cười, điểm cao cũng cười, đại tá quân đội, bạn Nghĩa học giỏi nhất lớp, con thầy Nhân hiệu phó, thầy là đảng viên đảng “dân chủ”, làm tiến sĩ ở nước ngoài vì “thẻ xanh” định cư ở đó. Bạn Thân (đã mất), tiến sĩ lịch sử giám đốc sở, bạn Hà mất trước khi bảo vệ tiến sĩ địa lý là giảng viên đại học, bạn tên Ngôn nhưng ít lời (đã mất), giám đốc công ty, bạn tên Trực nên hay nói thẳng, bí thư chi đoàn lớp, mấy chục năm chủ nhiệm HTX. Bạn tên Hoàn việc gì cũng hoàn hảo, là hiệu phó trường Trung học Phổ thông (trường cấp 3 ngày xưa tôi học), bạn Trận dạy toán nhưng thích thơ văn, bạn Dự dạy văn thích hoa lá, bạn Túc (đã mất) hiệu trưởng, thích đi đó đi đây. Bạn tên Dạn nhưng nhát gái, chuyên viên tài chính. Bạn Lan (đã mất) kỹ sư hóa cứ tưởng khô khan nhưng như hoa lan mềm mại, bạn Thiểng (đã mất) giáo viên dạy nghề thích tiếp thầy đón bạn. Bạn Mai giáo viên văn, thích múa ca. Bạn tên Diễm thấy rất “diễm tình”, bạn Huệ vợ thầy, vừa gọi cô vừa gọi bạn, tôi tên Sầm (Từ Sâm) nên cuộc đời, nghề nghiệp tối thui chả làm được chi, chỉ ăn là giỏi vv…
 
Các bạn nữ hồi đó như Thuận, Hương, Tuần, Tươi, Ngọ… “yêu” bạn thì ít “yêu” bộ đội thì nhiều. Trong túi xách có “khăn mùi soa” thêu đôi chim bồ câu xòe cánh, có nhẫn hình trái tim bằng nhôm máy bay.
Thầy hiệu trưởng nói, “sắp tới, mình đá với trường cấp 3 thị xã Đồng Hới, mấy đứa thành thị không ra ruộng, chân cẳng lèo ngoèo chúng thua là chắc”. Hôm thi đấu, đội khách đạp xe từ Cộn lên (Cộn là thị xã Đồng Hới sơ tán). Thầy trò “vỗ tay luôn luôn” kể cả bóng lên trời hoặc ra ngoài sân cỏ. Ai cũng làm “chỉ đạo viên” dù không biết thế nào là “manh” (trúng tay) hay “nu” (ném biên), bóng ra đường biên dọc nhưng vẫn hô “coọc ne” (phạt góc), có người hô “pe-nan- ty” (phạt 11 mét). Đội bạn đá lắt léo, đặc biệt là món “tét” (đội đầu) hơn bên ta.
Trọng tài “ta” nên huýt “súp lê” (còi) lợi cho đội mình, có khi trọng tại mệt, đi bộ, “súp lê” cũng nghỉ “huýt”. Thấy cầu thủ “ta” chạy sau khi đội bạn lừa bóng qua mặt là “chỉ đạo viên” ở ngoài hô “núm áo”. Hiệu quả thấy rõ là đối phương té ngữa, trọng tài “giả đò” không chộ chi. Đội bạn thấy “điểm yếu” của mình, khắc phục hiệp hai, cởi áo. Quân ta cũng cởi áo. Hai bên không túm áo thì túm quần. Hồi đó quần chưa luồn dây thun nên vẫn “còn nguyên vị trí” không phải lấy tay “che” bộ phận đảm trách sinh sản. Kết quả đội thị xã cởi trần da trắng “như cò”, thắng đội ta lưng “rám nắng” do mần ruộng 3 trái. Nếu họ không ăn bánh rán (tiệc chiêu đãi của chủ nhà) trước lúc đạp xe về hơn 20 cây số thì họ cho ta thêm vài trái là chắc chắn.
 
Nhà trường còn tổ chức giao lưu gặp mặt với các nhà thơ quân đôi “Đoàn 559”. Có nhà thơ tôi không nhớ tên nhưng tôi biết nhà thơ Phạm Tiến Duật với “Lửa đèn”, “Tiểu đội xe không kính”, “Trướng Sơn đông Trường sơn tây”...qua đài của anh tôi. Nhà thơ ốm, mũi nhọn, da rám nắng. Ông đọc mấy bài thơ dài mà không cầm giấy, mấy đứa cho là ông học thuộc, thế là cãi nhau. Tôi nhớ đoạn,
“Bóng tối che rồi
Cây trúc làm duyên phải nhờ gió thổi
Cô gái làm duyên phải nhờ giọng nói
Bông hoa làm duyên phải lụy hương bay”
Bạn Mai, người “thùng phi”, giọng cao “chích chòe”, tóc kẹp hai bên xòe ra như cánh bom bi. Bạn hát “Tiếng đàn Ta lư”, đến đoạn “một hai ba bốn năm sáu ngàn, tên lính thủy…” ngón tay ban “mổ cò” chỉ vô hàng trước, ai cũng lấy tay che mặt. Bạn hát tiếp bài “Trường Sơn đông Trường Sơn tây”. Bài hát có đoạn “anh lên xe trời đổ cơn mưa. Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ. Em xuống núi nắng chiều rực rỡ. Cái cành cây gạt nỗi riêng tư”. Bạn ấy hát, hết câu lại quay mặt ngó bên ni, mấy anh bộ đội bên ni vỗ tay, bạn hát câu tiếp lại ngó bên tê, mấy anh bộ đội bên tê vỗ tay. Bạn hát, mọi người say, niềm phấn khởi đang lên thì thầy hiệu trưởng người Quảng Xá, nói to “mi hát chi anh anh em em bộ đội răng mà vác ba lô”. Nhà thơ Phạm Tiến Duật ngồi dưới cười mỉm vì đó là bài hát mới được phổ thơ của mình.
Năm 1972, sau chiến dịch Quảng Trị, lớp chia tay mấy bạn ra chiến trường có bạn Dự, bạn Hoanh, bạn Vinh… Trong số đó, bây giờ Hoanh là người thiệt thòi nhất, hai đứa con bạn chất độc da cam. Bạn cười khi gặp nhau, nụ cười chan đầy nước mắt…
 
Họp lớp, Mai hát bài cũ, “thùng phi” nhỏ lại, gọn gàng như cây sáo trúc. Giọng “chích chòe” chắt lọc từ khổ đau, hạnh phúc, sau 50 năm trong trẻo tiếng “sơn ca”. “Một hai ba bốn năm sáu ngàn…nó bị bắt trong rừng”. Như ngày xưa, Mai “mổ cò” chỉ tay, nghiêng bên ni ngó bên tê khi hát. Những người thầy, người bạn, những anh bộ đội ngày trước không còn ở đây, không còn tiếng vỗ tay. Trước mắt bạn là sân khấu, là tiếng nhạc từ loa điện tử và ánh đèn nhấp nháy nhiều màu. Nhà thơ Phạm Tiến Duật không còn, thầy hiệu trưởng cũng không còn nữa. Nhưng còn đây mảnh đất ngôi trường cũ, bến đò xưa và tuổi xanh bạn bè dù mái đầu bạc trắng.
Mới đó mà qua nửa thế kỷ. Ngày đó chúng ta rất trẻ, trong gian khổ đã vươn lên và nụ cười nở hoa gặp lại.
“Mỗi lần hè thêm kỷ niệm, người xưa biết đâu mà tìm”, tôi đã là người cũ, thời gian còn được mấy dòng…

TS
  Trở lại chuyên mục của : Từ Sâm