TỪ SÂM

 
VĂN HỌC CHÉP TAY
 
Trong 35 năm công tác, chỉ có 3 năm trong quân ngũ tức thời gian chớp mắt nhưng có nhiều kỷ niệm với mình. Hồi đó tuổi 20, thực tình mình không muốn làm nghề viết lách vì thấy mình tài mọn. Mục đích mình viết là vì muốn có nhuận bút để ngồi quán với bạn bè ăn kẹo lạc, uống chè xanh, ăn phở không người lái. Nhuận bút ngày xưa cao lắm.
 
Đầu năm 1977, tôi gặp anh Quốc Minh (thượng úy) ở hội diễn quân khu. Anh là tác giả hai vở kịch “Đá trắng” và “Khoảng trống” được giải. Hồi đó, cấp thượng úy là to lắm. Do sĩ quan văn nghệ nên anh không đeo giò heo (súng lục). Sĩ quan đơn vị chiến đấu, có giò heo bên hông là các em mắt lim dim, môi trái tim, ôm eo chặt...
Tôi chỉ là lính quân hàm binh nhất mới nâng cấp lên hạ sỹ, không đeo quân hàm nên ai cũng tưởng sĩ quan trẻ. Được đi hội nghị, hội diễn ở cùng thủ trưởng nên mặt hãnh hiện và sáng lên niềm tự hào “ké”. Điều tôi thích nhất là được ăn no, tiêu chuẩn ăn tiểu táo được mấy ngày. Thời đó bộ đội ăn có 3 tiêu chuẩn, chức càng thấp tưởng rằng tiêu chuẩn càng cao, nhưng ngược lại, tôi mới vào quân ngũ cũng nhầm như thế. Ví dụ từ binh nhì đến trung úy thì ăn đại táo, sĩ quan từ thượng úy đến trung tá thì ăn trung táo và sĩ quan từ thượng tá trở lên ăn tiểu táo. Tôi và anh Quốc Minh ở cùng phòng khách của ngành thương nghiệp sang nhất thị xã Thái Bình lúc đó. Tuy là nhà cấp 4 nhưng có ra và gối, có nước máy, thuốc đánh răng và khăn mặt. Hết chuyện chung đến chuyện riêng. Để đông viên vở kịch của tôi bị loại từ “vòng gửi xe” vì kết thúc “bi lụy”. Anh an ủi tôi, ”em có hai nước đi, anh chỉ có một nước” (ý anh nói là tôi còn có thêm lựa chọn về trường đại học, còn anh thì chỉ có quân đội). Xem kịch anh viết, các nhân vật xung phong hoặc quyết tâm xa quê hương, bố mẹ, người yêu. Trên sân khấu súng ống nổ đùng đùng. Tôi nghĩ, anh là một nghệ sĩ khô khan và cứng nhắc, nên lựa lời nói chuyện để khỏi phật lòng anh. Đã mấy lần nghe tiếng bước chân chợ sớm, tiếng gà gáy canh, chuyện vẫn thì thào gió thoảng. Anh lấy ra cuốn sổ có nhiều bài thơ chép tay, có những bài “phản động” (thời đó) như “Núi đôi”, “Tây tiến”, đặc biệt, bài “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan, anh vẽ (minh họa) hoa sim bằng mực đỏ mọc trên đồi (có ngôi mộ mà tôi nhầm tưởng là lô cốt), tôi nhớ, bài thơ có đoạn:
“Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...”
Sau đó, anh đọc, tôi chép bài thơ “Biển”. Tên tác giả là lạ, tôi chưa gặp bao giờ. Anh nói, “để làm kỷ niệm với em, mai xa rồi, bài này anh cũng chỉ đọc truyền tay”.
“..Biển cồn cào suốt đêm
Từng đợt sóng lúc chồm lên lùi xuống
Biển yêu đất điên cuồng rộng lượng
Muốn xô bờ nhưng sợ bờ đau..
Biển cuộn vào lòng tất cả mọi lo âu
Chẳng có thế…
Biển già đi vì nhiều đêm trăn trở..”
Lúc đầu tôi tưởng là thơ Xuân Quỳnh, nhưng anh bảo đó là thơ của Nguyễn Thị Hồng Ngát. Sáng hôm sau, tôi tô chữ “Biển” thật đậm và có vẽ thêm vài ngọn sóng trên bãi cát, có hải âu bay nhưng nhìn kỹ thì như chim sẻ màu trắng. Sổ tay của tôi dày thêm những bài thơ như thế. Tôi ngày càng nhận ra, có hai dòng văn học trong một người, kể cả người lính. Văn học chính thống ở trong sách, ở nghị quyết, trên sân khấu, trên báo, tôi đọc và thường quên, văn học truyền miệng, chép tay, thì nhớ lâu. Tôi chưa gặp lại anh, không biết anh còn hay mất. Vì ngành nghề khác nhau nên tôi không có điều kiện gặp. Nếu không có cuốn sổ tay thì tôi đã hiểu lầm anh và cảm ơn tác giả bài thơ đi cùng năm tháng trong tôi. Khi viết những dòng này, tự kiểm điểm thấy mình tuổi 20 chữ viết và chữ ký thật thà, rõ ràng, không rối rắm như bây giờ, thiệt đúng là trẻ thật thà, già phức tạp...
  Trở lại chuyên mục của : Từ Sâm