VÕ THẠNH VĂN
BÀI CA BÌNH BẮC #23
[Cha con Đặng Tất &, Đặng Dung đánh quân nhà Minh,
năm 1404-1408]
“Có những hận lớn trong đời
Không dùng gươm không rửa được”
Hùng Sử Thi: VÕ THẠNH VĂN


Giặc hối hả -- Ta thư nhàn
Giặc căng thẳng -- Ta khoái hoạt
Giặc giết người uống máu
Ta uống rượu chờ trăng
Vỗ gươm mà hát -- Hoành kiếm mà ngâm
Dốc bầu nốc cạn -- Ngửa cổ cười khan
“Thế sự du du nại lão hà
”Vô cùng thiên hạ nhập hàm ca
[Quốc cừu vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma]
Trong tam thập lục kế của Tôn Vũ Tử
Ta dụng mưu Dĩ Dật Đãi Lao
Lấy ung dung ngồi chờ địch
Lấy phong lưu ngạo khí mà chế thắng
Giặc đông, ta ít
Giặc mạnh, ta yếu
Giặc tham tàn. Ta độ lượng
Giặc cướp bóc. Ta giúp dân
Giặc hồ đồ -- Ta trầm mặc
Ta lấy tĩnh chế động
Lấy mềm thắng cứng
Chưa đánh nhau
Đã thấy rõ lẽ đương nhiên thắng bại
Quân nhà Nam
Đặng Dung, anh hùng nghĩa đảm
Con trai danh tướng Đặng Tất Quốc Công
Lãnh tụ Nghĩa Quân chống Minh đầu thế kỷ XV
Đem công hãn mã, tài vương tá
Phò Giản Định Đế
Về sau, phò Trùng Quang Đế
Tham gia nhiều trận đánh thư hùng quyết liệt
Thề sống còn với cường tặc nhà Minh
Quân Nam quyết tâm
Đánh cho giặc biết oai trời
Moi gan phơi mật cho đời biết tên
Cha Đặng Tất -- Con Đặng Dung
Phò vua vì nghĩa chết cùng nước non
Cha bộ tướng tài ba dũng lược
Con thủy sư đô đốc trí mưu
Nuốt bao mặn chát quốc cừu
Phun bao rượu đắng thâm thù mài gươm
Cừu nhà hận nước máu tươm
Làm thơ múa kiếm đường gươm lẫy lừng
Thơ cái thế, gươm trung hưng
Hoành đao. Dựng kích. Râu xừng. Nghiến răng
Giận bầy cường khấu xâm lăng
Phen nầy tuốt kiếm chém phăng giặc thù
Là Thủy Sư Đô Đốc
Đã bao phen truy kích thủy táng quân thù
Chôn giặc dưới đáy sâu thủy mộ
Dưới những lòng sông Bắc Bộ quê hương
Quân giặc
Một mặt chết vì lưỡi kiếm đường gươm
Một số bỏ trốn, lang thang, chết đói
Số đông còn lại chết chìm dưới đáy sông lạnh
Uống đầy bụng nước sình lầy
Dưới đáy những sông hồ quê Mẹ
Đầu tướng giặc rơi xuống sông
Nước sủi bọt đen ngòm
Quân tướng nhà Minh
Ôm nhau đành phận chết chìm
Làm ma thất trận mò tìm đường lui
Đường về Lưỡng Quảng xa xuôi
Chết đói. Chết khát. Chết trôi. Chết mòn
Làm ma bại trận chưa xong
Ma Minh đầy bụng nước sông, ao, hồ
Lòng sông khuấy đỏ máu khô
Nặng nề. Ọc ạch. Ngây ngô. Lạc đường
Lối về cố quốc mù sương
Xa xuôi vạn dặm đường trường nghiêu khê
Đành làm ma cóng lạnh
Lang thang đất trời Nam
Quân Tướng nhà Nam đất Việt
Trung can nghĩa dũng hơn người
Quyền mưu, trá thuật, trải phơi gan vàng
Trung quân. Ái quốc. Son lòng
Gương đảm lược chảy suốt dòng sử ghi
Tang bồng hồ thỉ nam nhi
Thước gươm yên ngựa gan thi đất trời
Ôm yên. Gối trống. Ngủ đồi
Ngày trau binh mã -- Tối dồi binh nhung
Nửa khuya gãy trượng phu cầm
Mời trăng uống rượu lệ tầm tả sa
“Đầu bạc giang san thù chửa trả
“Long tuyền mấy độ bóng trăng soi
Lệ yêu nước -- Rượu quan hà
Mặt sông lạnh -- Đáy sông sâu
Quân giặc ác -- Bùn đổi màu
Máu giặc Bắc pha đỏ dòng sông Nam
Bao phen vỗ kiếm đánh tràn
Phơi gan. Trải mật. Thịt tan. Óc lềnh
Muôn đời sông núi biết tên
Kiếm cung. Tim phổi. Trung quân. Cảm hoài
“Thế sự du du nại lão hà
“Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
“Thời lai đồ điếu thành công dị
“Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
“Trí chúa hữu hoài phù địa trục
“Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
“Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma
(Thuật Hoài -- Đặng Dung)
[Việc đời man mác, tuổi già thôi
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ
Tan tành sự thế luống cay ai
Phò vua bụng những mong xoay đất
Gột giáp sông kia khó vạch trời
Đầu bạc giang san thù chửa trả
Long tuyền mấy độ bóng trăng soi]
[Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chuyển ngữ]
Cháu con miêu duệ một lòng
Khuôn phò (xã tắc, kỷ cương) nước nhà
Trai hào. Gái kiệt. Anh hoa
Dân, quân, sĩ, tốt đồng ca thái bình
Người Nam. Máu Việt
Núi cao. Sông hiểm. Biển sâu
Anh linh tích tụ -- Phép mầu vây quanh
Giang san vượng khí Cha Anh
Muôn đời. Muôn thuở
Muôn năm. Muôn trùng
phù-hư dật-sĩ
VÕ THẠNH VĂN