CÂY ĐA LÀNG NGUYỆT
"Chú Cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời"
Lúc nhỏ, nhìn lên mặt trăng tưởng chú Cuội thật. Mình đi đâu mặt trăng đi đó. Cứ tưởng mặt trăng là của riêng mình.
Ta thường nghe, cây đa bến nước sân đình ở các làng quê miền bắc. Cây đa thường trồng đầu làng và cuối làng. Cạnh cây đa là bến nước, cạnh bến nước là sân đình. Cổng làng ở đầu làng, đóng cổng làng là “nội bất xuất ngoại bất nhập”. Nhưng ở làng quê tôi (miền trung) không như thế. Làng Bình Thôn sát làng Nguyệt là ví dụ. Những năm 70 Từ Sâm đi học, lớp ở cạnh cây đa, sau đó cây đa già chết đi, người ta trồng cây đa khác ở cùng vị trí. Từ làng Nguyệt đi lên chợ Côộc, hoặc ngược lại từ chợ Côộc về làng Nguyệt đều có cây đa đầu làng Bình Thôn và cây đa cuối làng nằm ở chùa Bình Thôn), không có bến nước, không có sân đình.
Làng Nguyệt cũng có cây đa, không ở đầu làng, cuối làng mà ở giữa làng, người ta trồng ở đường Kiệt. Tại sao, vì làng Nguyệt cánh đồng trước mặt. Những năm 60, khi tôi lớn lên cây đa ở bên đường sát nhà chú tôi (chú Thơn, tức nhà o Khuyên bây giờ). Sát bên máng nước hồ Cẩm Ly (bây giờ nước từ hồ Rào Đá) từ cống ông Khờn chảy qua ruộng Trưa. Bây giờ máng nước vẫn còn và bê tông hóa. Ông cha giỏi thật, lựa thế để trồng cây chứ không theo công thức. Cây đa cổ thụ tỏa bóng mát góc trời, người đi làm đồng về nghỉ “một chặp” dưới bóng đa cho ráo mồ hôi. Trẻ con chăn trâu, trèo lên cây đa để dòm bóng trâu ở cồn De, cồn Đồng. Là nơi các bà các cô nói chuyện gia đình, chồng con, làng xóm, chuyện công điểm, học hành, chuyện ai còn ai mất. Dưới bóng cây là nơi gặp mặt trước khi ra đồng, là nơi nghỉ chân sau ngày vất vả. Cây đa như người già, rể cây choài ra xương xẩu. Và một ngày cây đa không còn nữa, nó lẳng lặng rời xa như cánh chim rời bầu trời, như rể cây rời mặt đất. Tuổi thơ tôi gắn với cây đa bến nước. Bến nước đàng Kiệt (trước mặt nhà ông Tri) cách cây đa vài chục mét có cây Cừa sum suê. Bao đứa trẻ ngồi trên đó thả câu, các mẹ các chị giặt áo. Tiếng đập lác (chiếu) bồm bộp không còn nữa, bóng cây cũng về nơi thầm lặng. Không còn trong bao diêm tiếng dế. Lá đa cắt thành trâu “bạng chắc" (chọi nhau). Đêm tháng ba, lúa trổ đòng đom đóm sao sa lập lòe ống bính (bí). Tiếng cu rôộc đung đưa trên ngọn tre làng cao vút tầng mây.
Hình lá đa chỉ còn trong trang sách và tiếng hát xoáy vào một thời kỷ niệm.
“Lá đa rụng bên bờ ao
Em biến chúng thành đàn trâu
Trâu lá đa bé tí tẹo
Cuống sỏ sẹo sợi rơm mùa”
Và những câu thơ đau đáu một thời dưới mái tranh gầy guộc ở “góc sân và khoảng trời” một thời niên thiếu.
“Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy…”
TS
TS