TỪ SÂM

 
MÁNG CẨM LY
 
Nước Cẩm Ly tức nước từ hồ Cẩm Ly chảy về theo máng nước, còn gọi là máng Cẩm Ly. Năm 1967 người ta đắp máng từ hồ Cẩm Ly đi qua xã Xuân Ninh, Vạn Ninh, An Ninh, Hiền Ninh và điểm cuối là xã Tân Ninh (các xã vùng nam sông Kiến Giang, thuộc huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình cũ) và tưới nước cho các xã này. Máng chảy qua làng Nguyệt theo đường quan cũ tức đường phía tây của làng. Máng đi song song với làng và tưới cho cánh đồng trước làng qua hai kênh nhỏ. Điểm chia gọi là côống. Kênh thứ nhất, từ máng chính phía giếng Hoang còn gọi là côống giếng Hoang cách khoảng 100m và kênh thứ hai gọi là côống ông Khờn vì kênh gần nhà ông Khờn theo đó chảy về đường liên lạc, qua đường kiệt, máng chảy bên cạnh cây đa nhà chú Thơn (tức nhà o Khuyên ngày nay) xuống ruộng Trưa. Các kênh nói trên nay vẫn còn như cũ. Máng chính qua Nguyệt Áng theo về thôn Quảng Xá. Đến ngã ba từ UBND xã Tân Ninh (cũ) có kênh từ côống của máng chính chia ra các kênh nhỏ, một phần kênh theo hướng tây về thôn Bình Thôn, Hỏa Lò. Kênh đi vuông góc chạy theo hướng đông về dọc theo thôn Thế Lộc. Ngày xưa các thôn Nguyệt Áng, Thế Lộc, Hữu Lộc, Tân Thành còn gọi là Hợp tác xã Nguyệt Lộc Tân nên chủ yếu tưới nước cho cánh đồng Hợp tác xã là chính. Người làm nông được tính bằng công điểm, một công (ngày) được vài lạng thóc.
 
Máng khi làm, được đào bằng thêu, cuốc, xẻng, rổ, rá, của hàng ngàn dân công. Máng chia làm hai bên, giữa là nước chảy. Một bên dùng làm đường đi nên làm to hơn bên kia. Trước đây máng được đắp bằng đất, sau này bê tông hóa (nhiều lần) như ngày nay. Khi chưa có cầu Trung Quán, người dân từ hướng Vạn Ninh, An Ninh đi theo đường “Liên Lạc” tức đường ở giữa làng Nguyệt Áng qua đập Mỹ Trung về Quốc Lộ 1A. Từ khi có cầu Trung Quán đường máng thành đường chính qua Dinh Mười để đến Quốc lộ 1A, vì đường ngắn hơn, rộng hơn và ít ngập nước mùa lụt. Và người dân cũng ít đi lại theo đường qua Mỹ Trung nữa.
 
Từ năm 1967 các xã vùng giữa của huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình (cũ) không (hoặc ít) dùng gàu tát nước, xe đạp nước từ mương hoặc từ ruộng sâu lên ruộng cạn. Các dụng cụ nói trên được dùng cho việc tát cạn bàu su, bàu chỉnh, năn, bàu kiệt để bắt cá là chính. Việc cơ giới hóa nông nghiệp (chủ động nguồn nước) từ năm 1967 đến nay đã là gần 60 năm.
 
Còn nhớ, cứ chiều đến là lũ trẻ chúng tôi đi từng nhóm, có khi từng đoàn có cả người lớn đến côống giếng Hoang hoặc côống ông Khờn để tắm. Các mệ các mự mang quần áo, chiếu chăn ra giặt, nước từ hồ trong vắt, mát lạnh. Năm 2001 hồ Cẩm Ly cạn nước, máng cũng cạn khô. Đồng nứt nẻ, trâu và người trông chờ nước “mội” từ giếng Hoang.
Hơn chục năm lại đây thay nguồn nước từ hồ Cẩm Ly bằng ngưồn nước từ hồ Rào Đá. Nước máng nhiều hơn và từ đó đến nay chưa thấy hồ cạn, chưa thấy máng hết nước. Nhưng không thấy người tắm, không thấy trẻ ngụp lặn như xưa.

TS
  Trở lại chuyên mục của : Từ Sâm